- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quốc H - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Quốc H phải chịu …
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2022/HS-ST Ngày: 21 – 6 – 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Phúc Lâm.
Ông Nguyễn Lê Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Đậu Công Hữu – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2022/TLST-HS, ngày 02 tháng 6 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 6 năm 2022 đối với:
Bị cáo Trần Quốc H, sinh ngày 20/11/1979 tại huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm L, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12 ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Tử B và bà Nguyễn Thị H; vợ Lê Thị Ng và có 01 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Chị Trịnh Thị Trà G, sinh năm 1982; nơi cư trú: Xóm S, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An. Xin xét xử vắng mặt.
2. Anh Võ Văn H; sinh năm 1977; nơi cư trú: Xóm L, xã K, huyện N, tỉnh Nghệ An. Xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Hành vi thứ nhất: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 14/4/2022, sau khi uống bia cùng nhau thì anh Trần Tấn Th chở Trần Quốc H về nhà Huy. Khi đi đến gần nhà văn hóa xóm L thì Huy xuống xe, còn anh Th đi về nhà. Quá trình đi bộ về nhà qua khu vực nhà văn hóa xóm L, Trần Quốc H thấy một chiếc xe máy điện, màu đen, không gắn biển số dựng ở góc sân, đang cắm sẵn chìa khóa trên xe. Quan sát xung quanh không có ai, Huy đi vào mở chìa khóa xe rồi điều khiển xe máy điện nói trên đi đến nhà ông Nguyễn Xuân Đ để tiếp tục uống rượu. Đến khoảng l7 giờ cùng ngày, do uống nhiều rượu, Trần Quốc H không điều khiển được xe máy điện đã lấy trộm nên để chiếc xe lại nhà ông Đường rồi đi bộ về nhà.
- Hành vi thứ hai: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 14/4/2022, Trần Quốc H đến nhà anh Võ Văn H chơi nhưng không có ai ở nhà, Huy nhìn thấy trên bàn uống nước có một chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO F11, màu xanh tím. Trần Quốc H đã lấy trộm chiếc điện thoại trên đưa về cất giấu trong khoanh đựng lúa tại gian bếp nhà mình.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 18/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện N, kết luận:
- 01 (một) xe máy điện, không có biển số, nhãn hiệu KYOTO, màu sơn đen được đưa vào sử dụng tháng 8/2021, thời điểm đến ngày 14/4/2022 có giá trị 2.500.000 đồng.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11, màu xanh tím, được đưa vào sử dụng năm 2020, thời điểm đến ngày 14/4/2022 có giá trị 2.500.000 đồng.
Tổng toàn bộ giá trị tài sản định giá là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
Bản cáo trạng số 41/CT-VKSNĐ ngày 31/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An truy tố Trần Quốc H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Quốc H mức án từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng:
- 01(một) chiếc xe máy điện, không có biển số, nhãn hiệu KYOTO, màu sơn đen. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của chị Trịnh Thị Trà G nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu. Hiện chị G không có yêu cầu gì về dân sự.
- 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO F11, màu xanh tím của anh Võ Văn H, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu, hiện anh H không có yêu cầu gì về dân sự.
Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Quốc H nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có tranh luận gì.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa bị hại vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
. Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Trần Quốc H đã khai nhận hành vi của mình phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Ngày 14/4/2022, tại xã K, huyện N, Nghệ An, Trần Quốc H đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là một chiếc xe máy điện của chị Trịnh Thị Trà G trị giá 2.500.000 đồng và một chiếc điện thoại di động của anh Võ Văn H trị giá 2.500.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 5.000.000 đồng. Vì vậy, Cáo trạng truy tố bị cáo về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
. Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo thực hiện 2 hành vi đều cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; ngoài ra bị cáo có bố là Trần Tử B và mẹ là Nguyễn Thị H là người có công được Nhà nước tặng thưởng, Huân, Huy chương khánh chiến. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo lao động tự do, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu về bồi thường dân sự; nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về vật chứng: Quá trình điều tra đã xử lý vật chứng theo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Quốc H 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Quốc H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: [ơ - VKSND huyện N; - Bị cáo; Bị hại; - Chi cục THADS huyện N; - Công an huyện N; - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - UBND xã K. - Sở tư pháp Nghệ An; - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huy Mạnh |