- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Th - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật TTHS
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH THANH HÓA ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2022/HS-ST Ngày: 29/11/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C – TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Đình Tài; Trịnh Huy Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan – Thư ký TAND huyện C, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 11 năm 2022, tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2022/TLST-HS, ngày 12 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2022/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:
Bùi Văn Th, tên gọi khác: Không; sinh ngày 08/5/1992, tại: xã T, huyện Ng, Thanh Hóa; Trú tại: Thôn H, xã T, huyện Ng, Thanh Hóa; Số thẻ CCCD: 038092010788; Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn V; Sinh năm: 1968; Con bà: Phạm Thị H; Sinh năm: 1965; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án: 01 tiền án. Ngày 12/11/2020, Bùi Văn Th bị TAND huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 04/4/2021 theo Giấy chứng nhận số 257/GCN của Trại giam Đại Bình, Cục C10, Bộ Công an.
Tiền sự: 01 tiền sự. Ngày20/6/2020, Bùi Văn Th bị Công an xã Đạ M’Rông, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản (Chưa chấp hành).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/8/2022, bị tạm giam từ ngày 08/8/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Bùi Văn Th: Ông Đường Xuân A – Trợ giúp viên pháp lý
Địa chỉ: Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 05, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thanh Hóa, có đơn xin vắng mặt.
- Người bị hại: Phạm Mạnh Đ - Sinh ngày 12/04/1964
Nơi cư trú: Thôn Tr, xã Ch, huyện C, tỉnh Thanh Hóa, có mặt
- Người làm chứng: Cao Văn T – sinh năm 1964
Địa chỉ: Thôn T, xã Ch, huyện C, tỉnh Thanh Hóa, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 14/7/2022 Bùi Văn Th đi bộ một mình theo đường mòn qua đồi từ xã Đ, huyện Ng sang khu vực xã Ch, huyện C. Khoảng 09 giờ sáng cùng ngày, khi đi đến khu vực thôn T, xã Ch, Th nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu WEVA màu đỏ đen BKS 36R2-4101 của ông Phạm Mạnh Đệ dựng ở chân đồi không có người trông coi nên đã nảy sinh ý định trộm cắp xe để làm phương tiện đi lại. Ngay lúc đó, bị cáo đi lại sát vị trí dựng chiếc xe rồi dắt xe đi về hướng đường tỉnh lộ 518B. Dắt được một đoạn, Th tháo giắc cắm dây điện ở ổ khoá, đạp xe nổ máy và đi ra hướng đường Hồ Chí Minh để đi về nhà. Trên đường đi, Th đã tháo biển số xe vứt ở dọc đường và sử dụng xe để làm phương tiện đi lại của bản thân. Đến ngày 05/8/2022 Bùi Văn Th đã giao nộp lại xe mô tô nhãn hiệu WEVA màu đỏ đen không gắn biển kiểm soát, số khung UM8A197402, số máy 52FMH370197402.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTS ngày 08/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C kết luận: Chiếc xe mô tô Bùi Văn Th trộm cắp tại thời điểm chiếm đoạt (Ngày 14/7/2022) trị giá là 2.200.000đ (Hai triệu hai trăm nghìn đồng).
Tại bản Cáo trạng số 39/CT-VKSCT-SH, ngày 11/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, truy tố bị cáo Bùi Văn Th tội “Trộm cắp tài sản”. Theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Nay bị cáo đã thấy hành vi trộm cắp của mình là sai trái, vi phạm pháp luật. Bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bị hại ông Phạm Mạnh Đ có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Nay ông đã nhận lại tài sản bị mất, không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Văn Th phạm tội Trộm cắp tài sản. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s, khoản 1, Điều 51, điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 136, điều 331, điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1, điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, của Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị HĐXX lên với bị cáo mức án từ 12 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2022.
Về án phí: Đề nghị miễn án phí HSST cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với tội danh, điều luật truy tố bị cáo. Đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị miễn tiền án phí HSST cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của người bị hại, tang vật và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 14/7/2022, tại thôn T, xã Ch, huyện C, Bùi Văn Th đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản là chiếc xe mô tô nhãn hiệu WEVA, BKS 36R2-4101, màu sơn đỏ đen trị giá 2.200.000đ (Hai triệu hai trăm nghìn đồng).Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 như Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
. Về tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo đã từng bị Tòa án xét xử về tội Trộm cắp tài sản, đã bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện, sửa chữa bản thân mà nay lại tiếp tục phạm tội. Điều đó thể hiện lối sống lười lao động, sự coi thường pháp luật, coi thường quyền sở hữu tài sản của người khác. Do đó, cần lên với bị cáo mức án thật nghiêm khắc để giáo dục cải tạo bị cáo.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s, khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự đó là Thành khẩn khai báo. Phải chịu một tình tiết tăng nặng là Tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.
. Về vật chứng của vụ án: Chiếc xe đã trả lại cho bị hại nên không xem xét. Đối với chiếc biển số xe 36R2-4101, chưa thu tìm được, khi nào thu được sẽ xem xét giải quyết sau.
. Về bồi thường dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu nên không xem xét.
. Về án phí: Do bị cáo là hộ nghèo có đơn xin miễn án phí. Do đó miễn toàn bộ án phí HSST cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật TTHS; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, của Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn Th 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2022.
Về án phí: Miễn toàn bộ án phí cho bị cáo Bùi Văn Th.
Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; bị hại; - Viện kiểm sát nhân dân H.C; - Phòng KTNV & THA - TAND tỉnh Thanh Hóa; - P7 - VSKND tỉnh Thanh Hóa; - Chi cục THA dân sự huyện C; - Các cơ quan hữu quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Dung |