vanban.org

Bản án 38/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Mỹ H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với anh Nguyễn Khắc T.

1. Chị Lê Thị Mỹ H và anh Nguyễn Khắc T được ly hôn. 2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Lê Thái S, sinh ngày 14-8-2005 cho chị Lê Thị Mỹ H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Khắc T không cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LE THI MY H-NGUYEN KHAC T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Mỹ H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với anh Nguyễn Khắc T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
THÀNH PHỐ TÂY NINH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 01-8-2022
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Tấn Phát;

2. Ông Huỳnh Quốc Tuấn.

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Tiểu Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 38/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 03 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 131/2022/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Lê Thị Mỹ H, sinh năm 1988; có đơn xin vắng mặt

Địa chỉ HKTT: Số 12, Hẻm, Nguyễn C, khu phố 3, phường 2, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.

Địa chỉ tạm trú: Số 64/10, khu phố H , phường HT, thị xã HT, tỉnh Tây Ninh.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Khắc T, sinh năm 1985; có đơn xin vắng mặt

Địa chỉ HKTT: Số 12, Hẻm, Nguyễn C, khu phố 3, phường 2, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị Mỹ H trình bày:

Chị Lê Thị Mỹ H và anh Nguyễn Khắc T tự nguyện quen biết và chung sống với nhau vào năm 2005, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 2, thành phố Tây Ninh vào ngày 30-11-2005. Quá trình chung sống thường xuyên bất đồng quan điểm do vợ chồng không hòa hợp. Chị H và anh T không còn chung sống với nhau từ năm 2008 cho đến nay. Nhận thấy hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T.

Con chung: Có 01 chung tên Nguyễn Lê Thái S, sinh ngày 14-8-2005, hiện đang ở với chị H. Chị H yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Sơn, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị Mỹ H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Khắc T có đơn xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án. Tại biên bản lấy lời khai ngày 06-7-2022 anh T trình bày như sau: Về hôn nhân thời gian kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng anh T thống nhất như chị H trình bày, cả hai sống ly thân đến nay là 14 năm. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên anh T đồng ý ly hôn với chị H.

Con chung: có 01 con chung Nguyễn Lê Thái Sơn như chị H trình bày. Anh T đồng ý giao con chung cho chị H nuôi, anh T không cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Anh Nguyễn Khắc T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị Lê Thị Mỹ H và anh Nguyễn Khắc T cùng vắng mặt nên không cung cấp chứng cứ, lời trình bày.

* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt.

+ Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 9, 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Mỹ H: Cho chị Lê Thị Mỹ H và anh Nguyễn Khắc T được ly hôn. Giao con chung Nguyễn Lê Thái S cho chị Lê Thị Mỹ H trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Lê Thị Mỹ H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Lê Thị Mỹ H khởi kiện yêu cầu ly hôn, yêu cầu được nuôi con chung đối với anh Nguyễn Khắc T, địa chỉ cư trú tại số 12, Hẻm 2, Nguyễn Văn Cừ, khu phố 3, phường 2, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Do vậy xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Tây Ninh có thẩm quyền giải quyết theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Lê Thị Mỹ H và anh Nguyễn Khắc T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Mỹ H và anh Nguyễn Khắc T tự nguyện chung sống vào năm 2005, ngày 30-11-2005 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 2, thành phố Tây Ninh. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Quá trình chung sống vợ chồng chị Lê Thị Mỹ H và anh Nguyễn Khắc T không hạnh phúc, vợ chồng không hòa hợp, cả hai có thời gian ly thân đã lâu; chị Lê Thị Mỹ H xin ly hôn, anh Nguyễn Khắc T cũng thể hiện ý kiến đồng ý ly hôn với chị H. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Lê Thị Mỹ H và anh Nguyễn Khắc T đã trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ cho chị H và anh T ly hôn theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Có 01 chung tên Nguyễn Lê Thái S, sinh ngày 14-8-2005. Ghi nhận ý kiến của các đương sự về việc nuôi dưỡng con chung như sau: Giao cháu Nguyễn Lê Thái S cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Anh Nguyễn Khắc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định pháp luật mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị H, anh T trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị Mỹ H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Mỹ H về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với anh Nguyễn Khắc T.

1.1. Chị Lê Thị Mỹ H và anh Nguyễn Khắc T được ly hôn.

1.2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Lê Thái S, sinh ngày 14-8-2005 cho chị Lê Thị Mỹ H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Khắc T không cấp dưỡng nuôi con.

Anh Nguyễn Khắc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định pháp luật mà không ai được cản trở.

1.3. Về tài sản chung, về nợ chung: Chị Lê Thị Mỹ H, anh Nguyễn Khắc T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị Mỹ H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền án phí, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí khởi kiện chị đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biê n lai thu số 0000864 ngày 22-3-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Chị H đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành hành án dân sự. án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án./.

Cỡ chữ