vanban.org

Bản án 38/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc C.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Ngọc C được ly hôn với ông Huỳnh Giang Long A. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 221, ngày 27/12/2018 do UBND phường Mỹ Hòa, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cấp không còn giá trị pháp lý. Về con chung: Ông Huỳnh Giang Long A được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc C.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 38/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 30-3-2022
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN,TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Diệu Tiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Quang Trí.

- Bà Phan Hoàng Mai.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Dương Chí Thanh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 506/2021/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2021 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2022/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc C, sinh năm 2000. (Có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 13, ấp B, xã V, huyện S, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Giang Long A, sinh năm 1993. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số 65, tổ 5, khóm K, phường H, thành phố X, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc C có đơn xin xét xử vắng mặt và trong quá trình giải quyết vụ án bà C trình bày: bà và ông Long A do mai mối nên tiến tới hôn nhân vào năm 2018, vợ chồng có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Sau khi kết hôn thì bà và ông Long A sống chung với gia đình chồng, vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 4/2021 thì phát sinh mâu thuẫn do ông Long A thường xuyên cờ bạc, thiếu nợ của nhiều người, vợ chồng phải bỏ trốn qua Phú Quốc và nghỉ việc tại Trung tâm y tế thành phố Long Xuyên. Sau đó, bà bán vàng cưới trả nợ cho ông Long A. Khi ở Phú Quốc, ông Long A tiếp tục cờ bạc sau đó đến tháng 6/2021 thì vợ chồng trở về Long Xuyên sinh sống, ông Long A không chịu đi làm, không chăm lo kinh tế gia đình, bà đi làm nhân viên tại Cửa hàng nội thất Phi Hùng ở phường Bình Đức, thành phố Long Xuyên thì ông Long A ghen tuông không cho bà đi làm, vợ chồng thường xuyên cự cãi và phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng. Bà bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống cho đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, không thể hàn gắn tình cảm nên bà yêu cầu ly hôn với ông Long A.

- Về con chung: bà và ông Long A có 01 con chung tên Huỳnh Bảo N, sinh ngày 20/4/2019. Trước đây tại đơn khởi kiện bà có yêu cầu nuôi dưỡng con chung do thời gian đầu sau khi ly thân thì cháu N sống với bà, sau đó ông Long A đón cháu N về nhà và nuôi dưỡng cháu cho đến nay. Hiện nay bà phải đi làm thường xuyên, thời gian không cố định và cháu N đang sống với ông Long A ổn định nên bà đồng ý để ông Long An trực tiếp nuôi dưỡng con chung, bà không cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: không có.

Bị đơn ông Huỳnh Giang Long A vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của ông Long A đối với yêu cầu khởi kiện của bà C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên phát biểu quan điểm:

Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm. Về thời hạn chuẩn bị xét xử thực hiện đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Ngọc C đối với ông Huỳnh Giang Long A. Về con chung: ông Huỳnh Giang Long A được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục giao cháu Huỳnh Bảo N, sinh ngày 20/4/2019, bà C không phải cấp dưỡng nuôi con chung do ông Long A không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

Bà Lê Thị Ngọc C yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Giang Long A. Ông Long A có nơi cư trú tại phường Mỹ Hòa, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc C có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông Huỳnh Giang Long A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả đương sự theo quy định tại Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Ngọc C và ông Huỳnh Giang Long A xác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của ông, bà được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Khi vợ chồng chung sống thì phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng do bất đồng quan điểm sống, ông Long A thường xuyên cờ bạc, nợ nần, không chăm lo cho gia đình, bà C xác định không còn tình cảm với ông Long A, vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm nên bà vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy, hôn nhân phải trên cơ sở tự nguyện, bà C xác định không thể tiếp tục chung sống cùng với ông Long A, hôn nhân không hạnh phúc và vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2021 đến nay, giữa vợ chồng không còn thực hiện các quyền và nghĩa vụ cũng như không cố gắng hàn gắn, duy trì cuộc sống hôn nhân. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà C là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: có 01 con chung tên Huỳnh Bảo N, sinh ngày 20/4/2019 hiện đang sống chung với ông Long A, bà C đồng ý để ông Long A được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Nhận thấy hiện nay cháu N đang sống với ông Long A từ năm 2021 đến nay, cháu đã ổn định về chỗ ở, điều kiện sinh hoạt, ông Long A cũng không có ý kiến phản đối về việc nuôi dưỡng con chung. Do đó, để duy trì cuộc sống ổn định cho cháu, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu N cho ông Long A trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng: do không ghi nhận được ý kiến của ông Long A đối với yêu cầu cấp dưỡng nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: ghi nhận ý kiến của bà C trình bày không có nên không đề cập giải quyết.

Về án phí: bà C phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Điều 28, 35, 39, 144, 147, 227, 228, 235, 238, 271, 273, 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Ngọc C.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Ngọc C được ly hôn với ông Huỳnh Giang Long A. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 221, ngày 27/12/2018 do UBND phường Mỹ Hòa, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cấp không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung: Ông Huỳnh Giang Long A được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung tên Huỳnh Bảo N, sinh ngày 20/4/2019.

Bà Lê Thị Ngọc C không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng bà có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản bà C thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Về cấp dưỡng: không xem xét, giải quyết.

- Về tài sản chung: không xem xét, giải quyết.

- Về nợ chung: ghi nhận bà Lê Thị Ngọc C và ông Huỳnh Giang Long A xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì bà Lê Thị Ngọc C và ông Huỳnh Giang Long A vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách bị đơn trong vụ án dân sự khác.

- Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Lê Thị Ngọc C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000752 ngày 10/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Bà C đã nộp xong.

Bà Lê Thị Ngọc C, ông Huỳnh Giang Long A được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ