- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chi T khoi kien ly hon voi anh T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Hoàng Thị T về “Ly hôn” đối với bị đơn anh Bùi Văn T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 38/2022/HNGĐ-ST Ngày 20/6/2022. V/v: Ly hôn giữa chị Hoàng Thị T và anh Bùi Văn T. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cầm Văn Nam và bà Phạm Thị Tư.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dự là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Chung - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 148/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2022, về “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2022/QĐXX-ST ngày 01 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1987
Địa chỉ: Số nhà 117/27 H, Phường 2, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Bùi Văn T, sinh năm 1987
Địa chỉ: Số nhà 117/27 H, Phường 2, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/01/2022, các lời khai trong qúa trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Thị T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân:
Chị và anh Bùi Văn T kết hôn với nhau vào ngày 19/3/2011, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh, kết hôn tự nguyện, không ai bị ép buộc và có làm đám cưới theo phong tục, tập quán. Trước khi kết hôn có thời gian tìm hiểu được 02 năm. Quá trình sống chung, vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 07 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, cách làm ăn kinh tế, cách nuôi dạy con cái, thường xuyên cãi nhau, mặc dù đã được gia đình khuyên can nhưng không được. Từ tháng 12/2018 cho đến nay, vợ chồng sống ly thân, mạnh ai nấy sống, không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có, hôn nhân không hạnh phúc, chị đề nghị Tòa án cho ly hôn với anh T.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung, có họ và tên là Bùi Hoàng Gia N, sinh ngày 15/9/2011, hiện tại đang ở với chị. Khi ly hôn nguyện vọng của chị yêu cầu được nuôi con chung. Chị làm nghề nhân viên y tế tư nhân, thu nhập bình quân 01 tháng là 10.000.000đ, chị đủ điều kiện nuôi con nên không yêu cầu anh T cấp dưỡng.
- Về tài sản: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Bùi Văn T trình bày:
Anh và chị Hoàng Thị T kết hôn với nhau vào ngày 19/3/2011, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh, kết hôn tự nguyện, không ai bị ép buộc và có làm đám cưới theo phong tục, tập quán. Trước khi kết hôn có thời gian tìm hiểu được 02 năm. Quá trình sống chung, vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 07 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, cách làm ăn kinh tế, cách nuôi dạy con cái dẫn đến thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung, mặc dù đã được gia đình khuyên can nhưng không được. Từ tháng 12/2018 cho đến nay, vợ chồng sống ly thân, mạnh ai nấy sống, không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Tình cảm của anh với chị T không còn, hôn nhân không hạnh phúc, anh đề nghị Tòa án cho ly hôn với chị T.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung, có họ và tên là Bùi Hoàng Gia N, sinh ngày 15/9/2011, hiện tại đang ở với chị T. Khi ly hôn anh chị Thỏa thuận chị T nuôi con chung cho đến tuổi thành niên, anh không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án như sau: Thực hiện đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định, Viện kiểm sát không kiến nghị gì.
Về giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 147, 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về … án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Hoàng Thị T về ly hôn đối với bị đơn anh Bùi Văn T. Về con chung: Có 01 con chung là Bùi Hoàng Gia N, sinh ngày 15/9/2011, chị T, anh T thỏa thuận, chị T nuôi con chung và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận; về tài sản chung, nợ chung: không có nên không xem xét; về án phí: chị Hoàng Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
Về pháp luật tố tụng:
1.1. Chị Hoàng Thị T và anh Bùi Văn T kết hôn với nhau vào ngày 19/3/2011, có đăng ký tại UBND phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số: 26/2011, quyển số 01/2011. Chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Bùi Văn T. Căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định quan hệ tranh chấp về: “Ly hôn”.
1.2. Bị đơn anh Bùi Văn T, ở địa chỉ: Số nhà 117/27 H, Phường 2, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Căn cứ khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
1.3. Nguyên đơn chị Hoàng Thị T và bị đơn anh Bùi Văn T đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
Về nội dung tranh chấp:
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ vợ chồng giữa chị Hoàng Thị T và anh Bùi Văn T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Quá trình sống chung theo chị Hoàng Thị T và anh Bùi Văn T xác định: Nguyên nhân mâu vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống, cách làm ăn kinh tế, cách nuôi dạy con cái, thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung. Từ tháng 12/2018 cho đến nay, chị T, anh T đã sống ly thân, mạnh ai nấy sống, không ai còn quan tâm đến nhau nữa.
Tại biên bản xác minh ghi ngày 16/5/2022 đối với bà Nguyễn Thị O là Tổ Trưởng tổ dân phố 3, Phường 2, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, có nội dung: Về tình trạng hôn nhân thì địa phương không nắm bắt được. Chị T, anh T cư trú tại: Tổ 3, Phường 2, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
Tại văn bản ngày 06/5/2022 đối với bà Phan Thị N, sinh năm 1960 là mẹ ruột của chị Hoàng Thị T, có nội dung: Về mâu thuẫn của vợ chồng chị T, anh T là do bất đồng về quan điểm sống (anh T là người dân tộc Mường), cách làm ăn kinh tế, nuôi dạy con cái không thống nhất nên thường xuyên cãi nhau. Từ tháng 12/2018 cho đến nay vợ chồng chị T, anh T sống ly thân với nhau, mặc dù có sống chung nhưng không hạnh phúc, mâu thuẫn quá trầm trọng, đã được gia đình khuyên giải nhưng không có tiếng nói chung, chị T và anh T mạnh người nào người đó sống, không còn quan tâm đến nhau nữa. Bà Nguyên đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn của chị T và anh T theo quy định của pháp luật.
Xét hôn nhân giữa chị T và anh T lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng chị T và anh T đã sống ly thân nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn lại gia đình. Vì vậy, áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xử cho Hoàng Thị T được ly hôn với anh Bùi Văn T.
2.2. Về con: Vợ chồng chị T, anh T có 01 con chung, có họ và tên là Bùi Hoàng Gia N, sinh ngày 15/9/2011, hiện tại đang sống chung với chị T. Tham khảo ý kiến của cháu Nhi có nguyện vọng được ở với chị T. Ngoài ra, chị T, anh T thỏa thuận chị T nuôi con chung cho đến tuổi thành niên, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con nên ghi nhận.
2.3. Về tài sản chung: Chị T, anh T trình bày không có nên không xem xét.
2.4. Về nợ chung: Chị T, anh T trình bày không có nên không xem xét.
Từ những phân tích, căn cứ pháp luật nêu trên, kết luận: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Hoàng Thị T về “Ly hôn” đối với bị đơn anh Bùi Văn T.
Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 144, 147, 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội qui định về …án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Hoàng Thị T về “Ly hôn” đối với bị đơn anh Bùi Văn T.
2. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Hoàng Thị T và anh Bùi Văn T.
3. Về con chung: Giao 01 con chung có họ và tên là Bùi Hoàng Gia N, sinh ngày 15/9/2011 cho chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến tuổi thành niên. Chị Hoàng Thị T đủ điều kiện nuôi con nên không yêu cầu anh Bùi Văn T cấp dưỡng.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và khi có lý do chính đáng thì mức cấp dưỡng có thể thay đổi được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
4. Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0004967 ngày 07/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Chị Hoàng Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: + Các đương sự; + VKSND Tp. B; + TAND tỉnh Lâm Đồng; + Chi cục T.H.A.DS. Tp. B; + UBND phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; + Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Vũ Đức Công |