vanban.org

Bản án 38/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Mai Thị L.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Mai Thị L với anh Phạm Văn N. Về con chung: Giao cháu Phạm Quỳnh N2, sinh ngày 09/9/2008 cho chị Mai Thị L trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Liên - Ninh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Mai Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM BÌNH
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2022/HNGĐ - ST
Ngày 22 - 4 - 2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cảnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Văn Thơi

2. Ông Phan Kiên Nhẫn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 22 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 11/2022/TLST - HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 33/2022/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Mai Thị L, sinh năm 1979 – vắng mặt

- Bị đơn: Anh Phạm Văn N, sinh năm 1981 – vắng mặt

Cùng địa chỉ: ấp P, xã T, huyện T1, tỉnh V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 05/01/2022 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Phạm Văn N trình bày:

Về hôn nhân: Chị L và anh cưới nhau vào năm 1998, hôn nhân do quen biết; chị L và anh N tự nguyện với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 21/10/2008 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T1, tỉnh V. Thời gian vợ chồng hạnh phúc khoảng 22 năm, đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ tháng 4 năm 2021 cho đến nay.

Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn chị L trình bày là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh N không quan tâm, chăm sóc gia đình. Chị L nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh N.

- Về con chung: Chị L và anh N có hai người con chung tên là Phạm Thành N1, sinh ngày 15/11/2000 và Phạm Quỳnh N2, sinh ngày 09/9/2008, hiện nay do chị L nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị L yêu cầu nuôi hai cháu N1 và cháu N2, chị L không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Phạm Văn N: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tại các Điều 196, 208 của Bộ luật Tố tụng dân sự cho anh N, nhưng anh N không có ý kiến gì bằng văn bản và vắng mặt đến lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do vậy, Tòa án căn cứ vào điểm d khoản 3 Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

- Các tài liệu, chứng cứ của vụ án: Đã được Tòa án công khai tại Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vào ngày 01/3/2022.

- Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh:

+ Về hôn nhân: Căn cứ vào bản chính Giấy chứng nhận kết hôn giữa anh Phạm Văn N với chị Mai Thị L được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T1, tỉnh V cấp ngày 21/01/2008 thì anh N và chị L là hôn nhân hợp pháp.

+ Về con chung: Căn cứ vào bản sao Giấy khai sinh được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T1, tỉnh V cấp ngày 15/11/2000 và ngày 09/9/2008 thì cháu Phạm Thành N1 và Phạm Quỳnh N2 là con chung của anh N và chị L.

- Các tình tiết, sự kiện mà các bên đương sự thống nhất, không thống nhất:

Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải cho anh N, nhưng anh N không có ý kiến gì bằng văn bản và qua hai lần tống đạt thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì anh N cũng không tham dự nên không xác định được sự thống nhất và không thống nhất của các đương sự trong vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ. Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện của chị L yêu cầu ly hôn với anh N là tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện Tam Bình, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình.

. Về trình tự, thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Tam Bình tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các tài liệu chứng cứ do đương sự tự giao nộp, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ, các bên đương sự là người đã thành niên, không bị nhược điểm về thể chất tâm thần nên vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải tham gia kiểm sát việc tuân thủ theo pháp luật tại phiên tòa, theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ngày 21/3/2022 chị L có đơn yêu cầu xét xử vắng nên Tòa án căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với chị L.

Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ cho anh N, nhưng anh N vẫn vắng mặt cả hai lần không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh N.

. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Về hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của chị L với anh N là có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa chị L với anh N là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian ly thân chị L và anh N không quan tâm chăm sóc với nhau, không tự đoàn tụ được với nhau. Chị L nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh N. Xét thấy, hôn nhân giữa chị L với anh N đã trầm trọng, không còn đời sống chung của vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 2, Điều 19, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L với anh N; cho chị L được ly hôn với anh N.

- Về con chung: Xét yêu cầu nuôi con chung của chị L là cháu Phạm Quỳnh N2, sinh ngày 09/9/2008 là có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ, từ khi ly thân năm 2021 đến nay cháu Quỳnh N2 do chị L nuôi dưỡng. Mặc khác, tại bản tự khai ngày 05/01/2022 thì cháu Quỳnh N2 có nguyện vọng sống chung với chị L sau khi chị L và anh N ly hôn với nhau; nhằm tránh xáo trộn và căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của cháu Quỳnh N2, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất và tinh thần. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu Quỳnh N2 cho chị L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh N không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào khoản 3 Điều 2, Điều 19, khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, kèm theo danh mục án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Mai Thị L.

- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Mai Thị L với anh Phạm Văn N.

- Về con chung: Giao cháu Phạm Quỳnh N2, sinh ngày 09/9/2008 cho chị Mai Thị L trực tiếp nuôi dưỡng.

Anh Phạm Văn N không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Mai Thị L không yêu cầu anh Phạm Văn N cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Mai Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Mai Thị L phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị L đã nộp theo biên lai thu số No 0010457 ngày 05 tháng 01 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình nên chị L không phải nộp thêm.

3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Mai Thị L và anh Phạm Văn N vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ