vanban.org

Bản án 38/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho bà Huỳnh Diệu T được ly hôn ông Nguyễn Thành T.

Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Ánh Vy, sinh ngày 12/3/2016 (nữ) cho ông Nguyễn Thành T trực tiếp nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Diệu Trinh - Nguyễn Thành Trung"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho bà Huỳnh Diệu T được ly hôn ông Nguyễn Thành T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NĂM CĂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 15-6-2022
V/v tranh chấp “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hồng Ngân

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Trang Phượng

Ông Lê Quang Đầy

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tú Hương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.

Ngày 15 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 66/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Diệu T, sinh năm 1994 (xin vắng).

Bị đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1992 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: ấp L, xã Đ, huyện N, tỉnh C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Diệu T trình bày:

- Về hôn nhân: Vào năm 2015 bà T có tìm hiểu và đi đến hôn nhân với ông T, hôn nhân không có tổ chức đám cưới nhưng có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Đất Mới, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau. Khi mới kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông T thường tụ tập bạn bè đi chơi, bỏ bê nhà cửa, không lo lắng cho gia đình. Bà T có khuyên nhiều lần nhưng ông T vẫn không sửa đổi. Cuối năm 2016 vợ chồng bà T sống ly thân cho đến nay. Bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thành T.

- Về nuôi con chung: Có 01 người con tên Nguyễn Ánh Vy, sinh ngày 12/3/2016 (nữ). Từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay cháu Vy sống chung với ông T. Khi ly hôn bà T đồng ý giao con cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc.

- Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung công nợ: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn ông Nguyễn Thành T:

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, hết thời hạn theo quy định mà ông T không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà T. Đồng thời, Tòa án đã tống đạt hợp lệ 02 lần Thông báo về phiên họp, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông T vẫn không tham gia.

Tại phiên tòa:

Bà Huỳnh Diệu T và ông Nguyễn Thành T vắng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về thủ tục tố tụng: Bà Huỳnh Diệu T yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Thành T, đồng ý giao con chung cho ông T nuôi dưỡng nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự; ông T cư trú tại ấp L, xã Đ, huyện N, tỉnh C. nên theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.

Bà Huỳnh Diệu T có đơn xin vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bà T là phù hợp.

Đối với ông Nguyễn Thành T đã được Tòa án thông báo hợp lệ các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, phiên xét xử sơ thẩm lần 01, quyết định hoãn phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được và Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với ông T.

. Về nội dung:

- Về hôn nhân: Năm 2015 bà T và ông T thành hôn, hôn nhân trên tinh thần tự nguyện. Hôn nhân không tổ chức lễ cưới nhưng có lập thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đất Mới, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau vào ngày 13 tháng 5 năm 2016 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 28/2016. Vì vậy quan hệ hôn nhân của bà Huỳnh Diệu T và ông Nguyễn Thành T được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Lý do yêu cầu ly hôn với ông T: Do cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, ông T không quan tâm, lo lắng cho gia đình. Vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2016 cho đến nay. Trong thời gian ly thân giữa bà T và ông T cũng không khắc phục được mâu thuẫn.

Xét thấy, mâu thuẫn hôn nhân giữa bà T và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Diệu T đối với ông Nguyễn Thành T theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

- Về nuôi con chung: Có 01 người con tên Nguyễn Ánh Vy, sinh ngày 12/3/2016 (nữ). Từ khi vợ chồng sống ly thân cho đến nay cháu Vy sống chung với ông T. Khi ly hôn bà T đồng ý giao con chung cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc.

Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình giải quyết vụ án ông T không có văn bản phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của bà T. Tòa án không liên lạc được để ghi ý kiến của cháu Vy. Tuy nhiên, hiện nay cháu Vy có cuộc sống ổn định bên ông T nên Hội đồng xét xử giao cháu Vy cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp với Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự“Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”.

- Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch bà Huỳnh Diệu T phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà T được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147, 220, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử

- Về hôn nhân: Cho bà Huỳnh Diệu T được ly hôn ông Nguyễn Thành T.

- Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Ánh Vy, sinh ngày 12/3/2016 (nữ) cho ông Nguyễn Thành T trực tiếp nuôi dưỡng.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

- Về án phí:

Bà Huỳnh Diệu T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0015458 ngày 04 tháng 3 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Năm Căn, không phải nộp tiếp.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ