- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ka T và K'B"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Ka T và ông K’B ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 38/2022/HNGĐ-ST. Ngày: 11-8-2022 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Lệ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Ngọc Hà và ông Đào Duy Trâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Thân Văn Đông – Thư ký của Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Ông K’Dem - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 251/2021/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2021 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Ka T, sinh năm 1985. Địa chỉ: thôn D, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Bị đơn: Ông K’B, sinh năm 1982. Địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 11 năm 2021, trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Ka T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông K’B kết hôn ngày 14 tháng 02 năm 2003, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 5 năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, từ ngày 25-6-2019 vợ chồng đã sống ly thân đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, bà yêu cầu ly hôn ông K’B, việc ly hôn bà đã suy nghĩ kỹ và tự nguyện.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là K’B1, sinh ngày 18-12-2002 và Ka T1, sinh ngày 17-4-2009. Hiện nay K’B1 đã thành niên, có khả năng lao động và có tài sản để tự nuôi minh, không yêu cầu giải quyết. Khi ly hôn bà Ka T yêu cầu giao con chung Ka T1 cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông K’B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Tài sản chung, tài sản nợ chung, tài sản riêng, tài sản cho vay chung: Bà Ka T xác định đều không có. Khi ly hôn không yêu cầu giải quyết về tài sản.
Ngoài ra, bà Ka T không có yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa bị đơn ông K’B vắng mặt không rõ lý do. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi và niêm yết Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà nhưng ông K’B đều vắng mặt, nên Tòa án không lấy lời khai của ông K’B được.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, của Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay. Đại điện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận cho bà Ka T và ông K’B ly hôn, giao con chung Ka T1, sinh ngày 17-4-2009 cho bà Ka T trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông K’B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con; tài sản không xem xét giải quyết. Buộc bà Ka T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Bà Ka T có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông K’B. Ông K’B cư trú tại huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Di Linh. Tại phiên tòa nguyên đơn bà Ka T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông K’B đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Bà Ka T và ông K’B tự nguyện kết hôn ngày 14 tháng 02 năm 2003, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Đ, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Ka T và ông K’B là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, quan hệ vợ chồng của ông, bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng và mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, việc bà Ka T yêu cầu được ly hôn với ông K’B là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự, bản sao giấy khai sinh, có cơ sở xác định bà Ka T và ông K’B có hai con chung là K’B1, sinh ngày 18-12-2002 và Ka T1, sinh ngày 17-4-2009. Hiện nay K’B1 đã thành niên, có khả năng lao động và có tài sản để tự nuôi minh, không yêu cầu giải quyết. Khi ly hôn bà Ka T yêu cầu giao con chung Ka T1 cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông K’B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, nguyện vọng của cháu Ka T1 là được sống cùng với mẹ là tự nguyện, không bị ai ép buộc; Cần ổn định cuộc sống của con chung; Bà Ka T có thu nhập, việc làm ổn định, có điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ka T1, nên cần giao con chung Ka T1, sinh ngày 17-4-2009 cho bà Ka T trực tiếp nuôi dưỡng, ông K’B không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Tài sản chung, tài sản nợ chung, tài sản riêng, tài sản cho vay chung: Bà Ka T xác định đều không có. Khi ly hôn không yêu cầu giải quyết về tài sản, nên không xem xét giải quyết về tài sản.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn bà Ka T theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 và Điều 271 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 và 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Ka T và ông K’B ly hôn.
2. Về con chung: Giao con chung Ka T1, sinh ngày 17-4-2009 cho bà Ka T trực tiếp nuôi dưỡng, ông K’B không phải cấp dưỡng nuôi con.
Quyền, nghĩa vụ thăm nom con; thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; thay đổi mức cấp dưỡng của các đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí: Bà Ka T phải chịu án phí dân sư sơ thẩm là 300.000 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0006307 ngày 18 tháng 11 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh. Bà Ka T đã nộp đủ án phí.
4. Quyền kháng cáo: Bà Ka T và ông K’B có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
5. Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND Di Linh; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - UBND Đ; - Chi cục thi hành án huyện Di Linh; - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký tên và đóng dấu) Huỳnh Thị Mỹ Lệ |