vanban.org

Bản án 38/2022/HNGĐ-PT — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 15/12/2022 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/12/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn La Văn C; Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 59/2022/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện huyện Z, tỉnh Vĩnh Long.

Không chấp nhận yêu cầu của anh La Văn C về việc anh La Văn C yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn đối với con chung La Nhật H, sinh ngày 22/5/2018 và anh La Văn C không yêu cầu chị Trương Thị Cẩm G cấp dưỡng nuôi con. Về án phí phúc thẩm: Anh La Văn C phải chịu 300.000 đồn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp thay đổi người nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn La Văn C; Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 59/2022/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện huyện Z, tỉnh Vĩnh Long.
  • Căn cứ chính? Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38 /2022/HNGĐ-PT
Ngày: 15 - 12 - 2022
V/v tranh chấp thay đổi người
trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tư

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Hữu Tuấn

Bà Trần Thị Ngọc Dung

- Thư ký phiên tòa: Ông Thái Thành Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long: Ông Nguyễn Phúc Vinh – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 15 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2022/TLPT – HNGĐ ngày 23 tháng 11năm 2022 về “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 59/2022/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm: 42/2022/QĐ-PT ngày 23 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh La Văn C, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú ấp X, xã Y, huyện Z, tỉnh Vĩnh Long (Có mặt).

- Bị đơn: Chị Trương Thị Cẩm G, sinh năm 1995; địa chỉ cư trú ấp X2, xã Y2, huyện Z, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị E, sinh năm 1967; địa chỉ cư trú ấp X2, xã Y2, huyện Z, tỉnh Vĩnh Long (Vắng mặt).

Do có kháng cáo của: Anh La Văn C – Là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 10 tháng 01 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh La Văn C trình bày:

Trước đây, anh C và chị Cẩm G là vợ chồng và có một người con chung là cháu La Nhật H, sinh ngày 22/5/2018. Ngày 18/12/2020, anh C và chị Cẩm G ly hôn theo Quyết định số: 235/2020/QĐST – HNGĐ ngày 18/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Vĩnh Long. Tại Quyết định số: 235/2020/QĐST – HNGĐ ngày 18/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Vĩnh Long đã thể hiện: Giao con chung là cháu La Nhật H, sinh ngày 22/5/2018 cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng, bị đơn anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền 800.000 đồng/tháng cho đến khi cháu La Nhật H đủ 18 tuổi. Bị đơn anh La Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Tuy nhiên, thực tế chị G thường xuyên giao cháu La Nhật H cho bà Trần Thị E (là bà ngoại của cháu La Nhật H) nuôi dưỡng (vì chị Cẩm G đi làm ở công ty may). Đồng thời, nhiều lần anh C đến thăm cháu Nhật H thì bị bà Em và chị Cẩm G ngăn cản không cho thăm, anh C đã báo Trưởng ấp Phú Thạnh B, xã Nhơn Phú, huyện Z lập biên bản 02 (hai) lần vào các ngày 19/12/2021 và ngày 31/12/2021. Anh C cho rằng việc bà Em và chị Cẩm G đã nhiều lần ngăn cản không cho anh thăm cháu Nhật H là phía chị G đã vi phạm Quyết định số: 235/2020/QĐST – HNGĐ ngày 18/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Vĩnh Long và xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của anh. Ngoài ra, hiện nay anh có điều kiện tốt hơn chị Giảng để nuôi dưỡng cháu Nhật H (thu nhập 9.500.000 đồng/tháng). Do đó, anh C yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng cháu La Nhật H và anh C không yêu cầu chị G cấp dưỡng nuôi con. Vì hiện nay anh C đang làm việc (phụ bán gạo cho Vựa gạo Ba Nhỏ ở Phường 1, thành phố Vĩnh Long, sáng đi làm chiều về) nên trường hợp Tòa án giao cháu Nhật H cho anh C nuôi dưỡng thì anh C sẽ cho cháu Nhật H đi học ở trường và nhờ cha mẹ ruột của anh cùng chăm sóc cháu Nhật H.

* Tại bản khai ý kiến ngày 29 tháng 4 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Trương Thị Cẩm G trình bày:

Chị Cẩm G xác định lời trình bày của anh C về việc trước đây chị với anh C là vợ chồng và có một người con chung là cháu La Nhật H. Đồng thời, chị với anh C đã ly hôn, cháu Nhật H giao cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và anh C được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là đúng sự thật. Tuy nhiên, chị Cẩm G cho rằng do trước đây anh C không thực hiện đúng nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và mỗi lần đến thăm con thì anh C có thái độ và lời lẽ xúc phạm chị và bà Em nên có 02 lần chị ngăn cản không cho anh C thăm cháu Nhật H và anh C đã trình báo Trưởng ấp Phú Thạnh B đến lập biên bản sự việc. Nhưng từ tháng 12 năm 2021 đến nay thì chị đã tạo điều kiện cho anh C thăm cháu Nhật H bình thường. Ngoài ra, do hiện nay chị phải đi làm thêm để có thu nhập nuôi dưỡng cháu La Nhật H (hiện đang làm việc tại công ty may Huy Hoàng ở Số 1 thuộc địa phận xã Bình Phước, huyện Z, sáng đi làm chiều về, thu nhập 5.500.000đồng/tháng) nên chị có nhờ bà Em (là mẹ ruột) của chị phụ chăm sóc cháu Nhật H với chị. Do đó, chị không đồng ý giao cháu Nhật H cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng.

* Tại biên hòa giải ngày 29 tháng 4 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Thị E trình bày:

Bà là mẹ ruột của chị G và là bà ngoại của cháu Nhật H và hiện đang sống chung nhà với chị G. Do chị G đang đi làm ở công ty may Huy Hoàng nên chị G có nhờ bà phụ chăm sóc cháu Nhật H. Có 02 lần bà ngăn cản không cho anh C thăm cháu Nhật H là bà làm theo yêu cầu của chị G. Bà Em xác định hiện nay bà và chị G vẫn đang chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nhật H tốt nên bà Em cũng không đồng ý giao cháu Nhật H cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng.

- Tại bản án hôn nhân sơ thẩm số: 59/2022/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Vĩnh Long đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm c khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ vào Điều 24 và khoản 3 Điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu của anh La Văn C về việc anh La Văn C yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn đối với con chung La Nhật H, sinh ngày 22/5/2018 và anh La Văn C không yêu cầu chị Trương Thị Cẩm G cấp dưỡng nuôi con.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

- Ngày 21/7/2022 nguyên đơn La Văn C kháng cáo bản án sơ thẩm với nội dung: Yêu cầu được nuôi dưỡng con chung La Nhật H, sinh ngày 22/5/2018, không yêu cầu chị G cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn La Văn C yêu cầu được nuôi dưỡng con chung La Nhật H, sinh ngày 22/5/2018, không yêu cầu chị G cấp dưỡng nuôi con.

Bị đơn Trương Thị Cẩm G đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm.

Vị Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu ý kiến về tính có căn cứ và hợp pháp việc kháng cáo của nguyên đơn La Văn C; về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm; Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về phần bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn; Giữ nguyên án sơ thẩm; Nguyên đơn phải nộp án phí phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Ngày 21/7/2022 anh C kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định. Nên đơn kháng cáo của anh C được xem xét theo thủ tục phúc thẩm theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét kháng cáo của anh C yêu cầu nuôi dưỡng con chung tên La Nhật H, sinh ngày 22/5/2018. Hội đồng xét xử xét thấy: Anh C và chị G đều thừa nhận từ khi chị G và anh C ly hôn, con chung Nhật H do chị G trực tiếp nuôi dưỡng; anh C cho rằng trong thời gian chị G nuôi con, chị G có hành vi ngăn cản việc anh C thăm nom, chăm sóc con chung, chị G được quyền nuôi con nhưng lại giao con chung cho bà Ngoại chăm sóc mà không trực tiếp chăm sóc. Ngoài ra, điều kiện nuôi con của anh C tốt hơn do hiện nay anh C đang đi làm tại vựa gạo tại Phường 1, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, thu nhập cao hơn chị G, trường hợp anh nuôi con thì sáng anh đi làm chiều về và nhờ mẹ ruột chăm sóc. Chị G thừa nhận trong thời gian chị nuôi con thì có hai lần chị ngăn cản anh C thăm con do anh C không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng và mỗi lần thăm con thì anh C có lời lẽ xúc phạm chị G và mẹ chị G, tuy nhiên từ tháng 12/2021 đến nay, chị G không còn ngăn cản việc anh C đến thăm con. Hiện chị G đang đi làm công ty tại huyện Z, nên trong thời gian chị G đi làm thì có nhờ mẹ ruột trông giữ con, chiều chị đi làm về thì chăm sóc con.

Xét thấy, trước đây chị G có hành vi ngăn cản anh C thăm nom con cũng có một phần lỗi của anh C. Hiện nay chị G cũng đảm bảo quyền thăm nom con chung của anh C, từ khi chị G nuôi con thì con chung phát triển rất tốt và có cuộc sống ổn định. Ngoài ra, anh C cũng thừa nhận trường hợp anh C được nuôi con thì anh C cũng nhờ mẹ ruột chăm nom con chung trong thời gian anh C đi làm. Do đó, điều kiện chăm sóc con của anh C cũng như chị G. Để tránh tình trạng xáo trộn về tâm sinh lý của tr nên Hội đồng xét xử thống nhất giao con chung La Nhật H, sinh ngày 22/5/2018 cho chị G tiếp tục nuôi dưỡng và không cần thiết để thay đổi người trực tiếp nuôi con là có cơ sở.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không thống nhất chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh C; Giữ nguyên án sơ thẩm.

Về án phí phúc thẩm: Anh C phải chịu án phí phúc thẩm theo khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quyết định khác của bản án sơ thẩm về án phí sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn La Văn C; Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 59/2022/HNGĐ-ST ngày 07 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện huyện Z, tỉnh Vĩnh Long.

1. Không chấp nhận yêu cầu của anh La Văn C về việc anh La Văn C yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn đối với con chung La Nhật H, sinh ngày 22/5/2018 và anh La Văn C không yêu cầu chị Trương Thị Cẩm G cấp dưỡng nuôi con.

2. Về án phí phúc thẩm: Anh La Văn C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí phúc thẩm, khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí theo biên lai số N0 0007290, ngày 21/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Z, tỉnh Vĩnh Long. Anh La Văn C đã nộp xong.

3. Quyết định khác của bản án sơ thẩm về án phí sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ