vanban.org

Bản án 38/2022/DSST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty VPB SMBC FC về “tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Anh Văn Quốc S có nghĩa vụ trả cho Công ty VPB SMBC FC tổng số tiền 28.433.224 đồng, trong đó nợ gốc 17.100.689 đồng, nợ lãi 11.332.535 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày 15/4/2023 cho đến khi thi hành án xong, anh S còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty VPB SMBC FC về “tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẾ SƠN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2022/DS-ST
Ngày: 31/8/2022.
V/v: “tranh chấp hợp đồng
tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Trần Nguyên Vỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lương Văn Ánh;

2. Ông Cao Đức Hùng.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Hồ Thu Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: bà Hồ Minh Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 21/2022/TLST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2022 về việc “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2022/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 106/2022/QĐST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty VPB SMBC FC. Địa chỉ: tầng 2, tòa nhà R, số 9 Đ, phường 13, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: anh Nguyễn Anh C, sinh năm 1989, chức vụ: chuyên viên tố tụng của Công ty Luật TNHH MTV S. Địa chỉ: số 89 H, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: anh Văn Quốc S, sinh năm 1994. Địa chỉ: thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/4/2022 và tại bản tự khai ngày 20/8/2022, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: vào ngày 13/4/2020, anh S có ký hợp đồng tín dụng số 20200414-0000451 với Công ty VPB SMBC FC để vay số tiền 17.935.000 đồng với lãi suất thỏa thuận 3.33%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận, anh S có trách nhiệm thanh toán số tiền 31.058.224 đồng gồm cả gốc và lãi, trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng, 35 tháng đầu mỗi tháng trả 863.000 đồng, tháng cuối cùng trả 853.224 đồng, bắt đầu từ ngày 15/5/2020. Thực hiện hợp đồng, anh S đã nhận đủ số tiền tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho VPB SMBC FC 03 lần với tổng số tiền 2.625.000 đồng bao gồm 834.311 đồng nợ gốc và 1.790.689 đồng nợ lãi. Kể từ ngày 16/9/2020 đến nay, anh S không thanh toán thêm bất kỳ khoản nào dù công ty đã dùng nhiều biện pháp nhắc nhở. Nay, VPB SMBC FC yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh S trả một lần cho công ty toàn bộ số nợ còn lại với tổng số tiền 28.433.224 đồng, trong đó nợ gốc 17.100.689 đồng, nợ lãi 11.332.535 đồng tính đến ngày 15/4/2023.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh S nhưng anh S vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ, bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 226, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng: anh S cư trú tại thôn D, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu anh S trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, vì vậy quan hệ pháp luật giải quyết là “tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do, do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt.

Về hiệu lực của hợp đồng tín dụng: hợp đồng tín dụng số 20200414-0000451 ngày 13/4/2020 được ký kết trên cơ sở tự thỏa thuận và hoàn toàn tự nguyện. Tại thời điểm giao kết, các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Hợp đồng đảm bảo về mặt hình thức và nội dung không trái pháp luật, đạo đức xã hội. Do đó, hợp đồng trên có hiệu lực pháp luật.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Theo hợp đồng hợp đồng tín dụng số 20200414-0000451, ngày 13/4/2020, anh Sỹ vay của công ty VPB SMBC FC số tiền 17.935.000 đồng để tiêu dùng cá nhân, lãi suất vay 3.33%/tháng, trả chậm liên tiếp trong vòng 36 tháng, 35 tháng đầu mỗi tháng trả 863.000 đồng, tháng cuối cùng trả 853.224 đồng, bắt đầu từ ngày 15/5/2020. Tuy nhiên đến nay, anh mới trả được tổng số tiền 2.625.000 đồng bao gồm cả nợ gốc và nợ lãi. Kể từ ngày 16/9/2020, anh không thanh toán thêm bất kỳ khoản nào. Như vậy, anh S đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, do đó công ty tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC khởi kiện yêu cầu anh S trả một lần toàn bộ số nợ còn lại là 28.433.224 đồng, trong đó nợ gốc 17.100.689 đồng, nợ lãi 11.332.535 đồng tính đến ngày 15/4/2023 là có căn cứ.

Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc anh S có nghĩa vụ trả cho công ty VPB SMBC FC tổng số tiền 28.433.224 đồng, trong đó nợ gốc 17.100.689 đồng, nợ lãi 11.332.535 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: anh Sỹ phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty VPB SMBC FC về “tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

1. Anh Văn Quốc S có nghĩa vụ trả cho Công ty VPB SMBC FC tổng số tiền 28.433.224 đồng, trong đó nợ gốc 17.100.689 đồng, nợ lãi 11.332.535 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày 15/4/2023 cho đến khi thi hành án xong, anh S còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: anh S phải chịu là 1.421.661 đồng. Hoàn trả cho Công ty VPB SMBC FC số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 710.830 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Sơn theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004666 ngày 06/5/2022.

3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/8/2022), đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ