vanban.org

Bản án 38/2022/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 28/02/2022 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/02/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c vào khoản 1 Điều 308, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án,

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị H có các th a kế quyền và ngh a vụ tố tụng là Trần Hữu K, Trần Thanh , Trần Thị AĐ, Trần Duy P và các em Trần Thị KP, Trần Ngọc T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 90/2020/DS-ST ngày 28/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh An Giang. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản — án dân sự — "tranh chấp giữa bà Hảnh và bà Lệ"
  • Tòa quyết gì? Căn c vào khoản 1 Điều 308, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án,
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2022/DS-PT
Ngày: 28/02/2022
V/v “Tranh chấp hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Minh Phượng.

Các Thẩm phán:

bà Ngô Ngọc Phỉ;

ông Khưu Để Dành

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hoa Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang: ông Phạm Trường San - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 34/2021/TLPT-DS ngày 08/3/2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 90/2020/DS-ST ngày 28-7-2020 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh An Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 87/2021/QĐ-PT ngày 10/5/2021, Thông báo mở lại phiên tòa số 01/TB-TA ngày 12/01/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2022/QĐ-PT ngày 08/02/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1942 (chết ngày 06/12/2020).

Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà H gồm:

1. Ông Trần Hữu K, sinh năm 1961; nơi cư trú: T 7, ấp M1, xã G, huyện M, tỉnh An Giang, có mặt.

2. Anh Trần Thanh , sinh năm 1985; nơi cư trú: T 7, ấp M1, xã G, huyện M, tỉnh An Giang, vắng mặt.

3. Chị Trần Thị AĐ, sinh 1990; nơi cư trú: T 7, ấp M1, xã G, huyện M, tỉnh An Giang, vắng mặt.

4. Anh Trần Duy P, sinh năm 1995; nơi cư trú: T 7, ấp M1, xã G, huyện M, tỉnh An Giang, vắng mặt.

5. Chị Trần Thị KP, sinh năm 2000; nơi cư trú: số 167, T 7, ấp M1, xã G, huyện M, tỉnh An Giang, vắng mặt.

6. Em Trần Ngọc T, sinh ngày 07/02/2007; nơi cư trú: số 167, T 7, ấp M1, xã G, huyện M, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Người đại diện theo pháp luật của em T là bà Phan Thị (mẹ ruột).

- Bị đơn: bà Phan Thị , sinh năm 1979; nơi cư trú: số 167 ấp M1, xã G, huyện M, tỉnh An Giang, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ủy ban nhân dân huyện Chợ M i, tỉnh An Giang; địa chỉ: ấp Thị, thị trấn Chợ M i, huyện Chợ M i, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của UBND huyện Chợ M i là ông Vũ Minh T – Phó Chủ tịch UBND huyện Chợ M i, theo văn bản ủy quyền số 195/QĐ-UBND ngày 07/02/2018, vắng mặt.

2. Văn phòng công ch ng Lý Thanh D (Phòng công ch ng An Giang); địa chỉ: ấp ong Hòa, thị trấn Chợ M i, huyện Chợ M i, tỉnh An Giang, vắng mặt.

3. Chị Trần Thị KP, sinh năm 2000, vắng mặt;

4. Em Trần Ngọc T, sinh ngày 07/02/2007, vắng mặt;

Người đại diện theo pháp luật của em Toàn là bà Phan Thị (mẹ ruột), có mặt.

Cùng nơi cư trú: số 167 ấp M1, xã G, huyện M, tỉnh An Giang.

5. Ông Nguyễn Thế Y, sinh năm 1973; nơi cư trú: ấp M 1, xã G, huyện M, tỉnh An Giang, vắng mặt.

Người kháng cáo: bà Nguyễn Thị H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung án sơ thẩm:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H ủy quyền cho ông Nguyễn Văn Ph, Trần Hữu K tr nh bày: Nguồn gốc đất là của cha mẹ chồng bà H là ông Trần Văn C (chết), bà V Thị G (chết) cho vợ chồng bà H diện t ch 3.212m2, đất 2 lúa. Vào năm 1967, chồng bà H là ông Trần Văn N chết và bà H đã tiếp tục sử dụng phần đất này. Sau đó, bà H đã đăng ký và được cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất, nhưng không nh năm nào. Đến năm 2014, con bà H là Trần Ngọc Th đã chết, bà là con dâu sống chung trong nhà, vào khoảng tháng 02/2014 bà H bị bệnh n m ở bệnh viện Chợ R y, Thành phố Hồ Ch Minh t ngày 25/02/2014 đến 06/3/2014, trong lúc bà H bị bệnh không nhận th c r ràng, th bà có đưa giấy cho bà H ký tên và lăn tay. Sau này bà H m i biết việc ký tên, lăn tay là làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, bà có khởi kiện ở xã G vào năm 2015 th phát hiện bà đã được cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất. Việc bà H ký tên, lăn tay trong hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là do l a dối do không nhận th c được, và không muốn tặng cho quyền sử dụng đất này nữa.

Ông Ph, ông K đại diện theo ủy quyền của bà H yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất có công ch ng của Phòng công ch ng An Giang giữa bà Bà Nguyễn Thị H v i bà Phan Thị do giao dịch này bị l a dối.

Yêu cầu hủy giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số CH06107 do Ủy ban nhân dân huyện Chợ M i cấp ngày 01/8/2014 cho bà Phan Thị .

Buộc bà Phan Thị trả lại phần đất có diện t ch 3.212m2, đất 2 lúa theo bản vẽ ngày 21/12/2016 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh M cho bà Nguyễn Thị H.

Bị đơn do ông Bùi Quốc N đại diện theo ủy quyền của bà Phan Thị L tr nh bày, nguồn gốc đất là của cha mẹ chồng bà L là ông Trần Văn N (chết) và bà Bà Nguyễn Thị H. Trư c đó, chồng bà L là ông Trần Ngọc Th còn sống, được bà H cho phần diện t ch đất là 3.212m2, loại đất 2 lúa, có công ch ng. Năm 2014 ông Trần Ngọc Th chết th bà L làm thủ tục khai tử và chuyển sang tên cho bà phần đất có diện t ch 3.212m2 để nuôi 02 con. Bà L không đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn, v đất này trư c đó bà H đã cho chồng bà L là ông Trần Ngọc Th lúc còn sống. Sau khi ông Th chết năm 2014, bà H đã tặng cho kỷ phần được hưởng của bà cho bà L theo đúng quy định.

Người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan:

Cháu Trần Thị KP thống nhất v i ý kiến của bà L và có yêu cầu xét xử vắng mặt.

Cháu Trần Ngọc T do bà Phan Thị làm đại diện thống nhất v i ý kiến của bà L.

Ông Nguyễn Thế Y tr nh bày, vào năm 2019, ông có thuê đất 07 công đất của bà L v i giá 3.200.000 đồng/1 công, thời hạn thuê là 01 năm. Ông sẽ trả lại đất cho bà L. Ông không có ý kiến g và xin vắng mặt xét xử.

Ủy ban nhân dân huyện Chợ M i có ý kiến, nguồn gốc đất là của ông Trần Ngọc Th được Ủy ban nhân dân huyện Chợ M i cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số CH06107 ngày 27/12/2013, diện t ch 3.212m2. Sau khi ông Th chết (không để lại di chúc) th mẹ ông là bà Nguyễn Thị H cùng vợ và các con ông Th là Phan Thị , sinh năm 1979, Trần Thị KP, sinh năm 2000, Trần Ngọc T, sinh năm 2007 cùng lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản th a kế. Trong đó, bà H đồng ý tặng suất th a kế theo pháp luật được hưởng của ông Trần Ngọc Th lại cho bà Phan Thị ; Trần Thị KP, Trần Ngọc T (Văn bản thỏa thuận phân chia di sản th a kế được Văn phòng công ch ng An Giang ch ng thực ngày 26/6/2014)

Sau khi hoàn thành thủ tục nhận di sản th a kế, đến ngày 01/8/2014 bà Phan Thị (kỷ phần được hưởng của Trần KP, sinh năm 2000, Trần Ngọc T, sinh năm 2007, được bà Phan Thị là người giám hộ) được Ủy ban nhân dân huyện Chợ M i cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số CH06107, diện t ch 3.212m2, thuộc tờ bản đồ số 61, thửa số 182, mục đ ch sử dụng: đất chuyên trồng lúa nư c, khu đất tọa lạc tại ấp T, xã G, huyện M, tỉnh An Giang. Do đó, việc cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cho bà Phan Thị là đúng đối tượng và đúng tr nh tự pháp luật quy định.

Phòng Công ch ng An Giang (Phòng công ch ng Lý Thanh D) đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án của bà H, nhưng không có ý kiến và vắng mặt trong các bu i hòa giải, đối chất.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 90/2020/DS-ST ngày 28/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh An Giang tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.

Sơ đồ khu đất tranh chấp ngày 21/12/2016 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh M là một phần không tách rời của bản án.

Bà Nguyễn Thị H phải chịu chi ph định giá, sao lục hồ sơ, đo đạc 2.579.000 đồng (Hai triệu, năm trăm bảy mươi ch n ngh n đồng) (bà H đã nộp xong).

- Án ph dân sơ thẩm bà Nguyễn Thị H không phải chịu án ph sơ thẩm. Bà H được nhận lại tiền tạm ng án ph 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0003675 ngày 11/12/2015 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/8/2020 bà Nguyễn Thị H kháng cáo, yêu cầu xem xét lại bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà. Ngày 06/12/2020, bà H chết.

Tại biên bản xác minh ngày 22/12/2021 ông Trần Hữu K là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà H trình bày: Bà H có 03 người con gồm: Tôi (Trần Hữu K), Trần Duy Ch, Trần Ngọc Th. Ông Ch chết khoảng 10 năm, Ông Ch có các con là Trần Thanh , Trần Thị AĐ, Trần Duy P; ông Th chết khoảng 08 năm. Trư c đây mẹ tôi có khởi kiện tại Tòa án huyện M yêu cầu hủy giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà L, hủy hợp đồng tặng cho giữa bà H v i bà L, yêu cầu bà L trả lại phần đất 3.212m2 đất. Sau khi Tòa án huyện M xét xử mẹ tôi kháng cáo. Nay mẹ tôi chết tôi v n giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của mẹ tôi.

Ông Trần Thanh L trình bày: Tôi là con ruột của ông Trần Duy Ch, cháu bà H, mẹ tôi tên Nguyễn Thị M, cha mẹ tôi có 03 người con là Trần Thanh , Trần Thị AĐ, Trần Duy P, cha tôi chết khoảng 10 năm. Trư c đây bà nội tôi có khởi kiện tranh chấp v i bà L tại Tòa án huyện Chợ M i, sau khi xét xử sơ thẩm bà tôi kháng cáo. Nay tôi giữ nguyên yêu cầu kháng cáo của bà tôi.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông K v n giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của bà H, các đương sự không thỏa thuận được v i nhau về việc giải quyết vụ án.

Tranh luận:

Ông K: bà H sang tên quyền sử dụng đất cho bà L là không hợp pháp

Bà L không tranh luận

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: nguyên đơn thực hiện quyền kháng cáo trong hạn luật định, được Tòa án nhân dân tỉnh An Giang thụ lý giải quyết là đúng quy định. Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự t khi thụ lý vụ án đến khi xét xử. Các đương sự cũng chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.

Ông Th được UBND huyện Chợ M i cấp giấy ch ng nhận QSDĐ ngày 27/12/2013, diện t ch 3.212m2. Ngày 22/12/2013 ông Th chết, ông Th không để lại di chúc, ngày 26/6/2014 vợ con ông Th và bà H là những người thuộc hàng th a kế th nhất của ông Th lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản th a kế có nội dung bà H đồng ý tặng suất th a kế theo pháp luật cho bà L, hai em KP, T, văn bản thỏa thuận có công ch ng của Phòng Công ch ng An Giang. Ngày 01/8/2014 bà L được cấp quyền sử dụng đất diện t ch 3.212m2. Bà H cho r ng bị l a dối do nhận th c không rõ ràng, khi bà L đưa giấy bà H đã ký tên và lăn tay, nhưng ngoài lời khai th bà H không có ch ng c ch ng minh, bà L không th a nhận l a dối bà H. Theo giấy ra viện bà H điều trị bệnh tại Bệnh viện Chợ R y, thành phố Hồ Ch Minh t ngày 25/02/2014 đến 06/3/2014, còn tờ thỏa thuận phân chia di sản th a kế là ngày 26/6/2014 có công ch ng của Văn phòng Công ch ng An Giang, không phải trong thời gian bà H bị bệnh, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà H là có căn c . Bà H kháng cáo nhưng không cung cấp được ch ng c b sung nên không được chấp nhận, bà H được miễn án ph phúc thẩm.

Đề nghị Hội đồng xét áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của bà H có những người kế th a quyền ngh a vụ tố tụng của bà H gồm các ông bà K, L, AĐ, P, KP, T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên c u các tài liệu, ch ng c có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục kháng cáo: nguyên đơn kháng cáo ngày 10/8/2020 là trong hạn luật định và có đơn xin miễn nộp tạm ng án ph phúc thẩm nên được chấp nhận giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Về thủ tục tố tụng: Sau khi kháng cáo đến ngày 06/12/2020 bà H chết, Tòa án đã đưa những người kế th a quyền, ngh a vụ tố tụng của bà H là các ông bà Trần Hữu K, Trần Thanh , Trần Thị AĐ, Trần Duy P và các em Trần Thị KP, Trần Ngọc T vào tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của các đương sự: các đương sự Trần Thanh , Trần Thị AĐ, Trần Duy P và em Trần Thị KP và ông Nguyễn Thế Y đã được triệu tập hợp lệ đến lần th hai nhưng v n vắng mặt. căn c vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên

Xét kháng cáo của bị đơn:

Căn c vào các ch ng c , tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện ngày 14/11/2013 bà H lập Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng phần đất 2.736m2, thuộc giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất 01829QSDĐ/kB ngày 07/3/1994 cho ông Trần Ngọc Th. Hợp đồng tặng cho này có công ch ng của Văn phòng Công ch ng An Giang. Ngày 27/12/2013 ông Th được cấp giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất diện tích 3.212m2 là hợp pháp. Sau khi ông Th chết ngày 26/6/2014 tại Văn phòng Công ch ng An Giang, các th a kế của ông Th gồm bà H, bà L, các em KP, T lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản th a kế của ông Th là phần đất 3.212m2. Văn bản thỏa thuận này có nội dung bà H đồng ý tặng cho bà L, các em KP, T suất th a kế theo pháp luật được hưởng cho bà L và các em KP, T; bà L là người giám hộ cho em T, KP; ông Phan Tấn A là người giám sát việc giám hộ của bà L (Theo văn bản thỏa thuận cử người giám sát việc giám hộ giữa bà L, bà H, ông A có xác nhận của Ủy ban xã G). Ngày 01/8/2014 bà L được cấp quyền sử dụng đất diện t ch 3.212m2 là đúng quy định của pháp luật.

Bà H cho r ng trong thời gian bà n m viện do nhận th c không r ràng, bà L đưa giấy tờ cho bà ký tên, sau đó phát hiện bà L được cấp QSDĐ. Tuy nhiên, căn c vào giấy ra viện ngày 05/3/2014 (BL 02) thì bà H điều trị bệnh tại Bệnh viện Chợ R y, thành phố Hồ Ch Minh t ngày 25/02/2014 đến 06/3/2014, trong khi văn bản thỏa thuận phân chia di sản của ông Th là ngày 26/6/2014. Như vậy, lời tr nh bày của bà H là không đúng v i thực tế. Mặt khác, tại biên bản hòa giải ngày 15/4/2015 (Bl 84, 85), bà H cho r ng quyền sử dụng đất có tên ông A đ ng tên là bà không đồng ý ch không phải do bà L l a dối. Bà H không cung cấp được ch ng c ch ng minh cho việc bà L có đối xử không tốt hoặc l a dối bà. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của bà H là có căn c . Bà H kháng cáo nhưng không cung cấp được ch ng c nên không có cơ sở chấp nhận. Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Viện kiểm sát.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể t thời điểm hết hạn kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án ph phúc thẩm: Miễn án ph phúc thẩm cho bà H, có những người kế th a quyền và ngh a vụ tố tụng là Trần Hữu K, Trần Thanh , Trần Thị AĐ, Trần Duy P và các em Trần Thị KP, Trần Ngọc T.

V các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c vào khoản 1 Điều 308, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án,

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị H có các th a kế quyền và ngh a vụ tố tụng là Trần Hữu K, Trần Thanh , Trần Thị AĐ, Trần Duy P và các em Trần Thị KP, Trần Ngọc T.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 90/2020/DS-ST ngày 28/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh An Giang.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H, có các th a kế quyền và ngh a vụ tố tụng là Trần Hữu K, Trần Thanh L, Trần Thị AĐ, Trần Duy P và các em Trần Thị KP, Trần Ngọc T đối v i các yêu cầu:

Yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất có công ch ng của Phòng công ch ng An Giang ngày 26/6/2014 giữa bà Bà Nguyễn Thị H v i bà Phan Thị L; yêu cầu hủy giấy ch ng nhận quyền sử dụng đất số CH06107 do Ủy ban nhân dân huyện Chợ M i cấp ngày 01/8/2014 cho bà Phan Thị ; yêu cầu buộc bà Phan Thị trả lại phần đất có diện t ch 3.212m2, đất 2 lúa theo bản vẽ ngày 21/12/2016 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh Chợ M i.

Sơ đồ khu đất tranh chấp ngày 21/12/2016 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh M là một phần không tách rời của bản án.

Bà Nguyễn Thị H phải chịu chi ph định giá, sao lục hồ sơ, đo đạc 2.579.000 đồng (Hai triệu, năm trăm bảy mươi ch n ngh n đồng) (bà Hđã nộp xong).

- Án ph dân sơ thẩm bà Nguyễn Thị H không phải chịu án ph sơ thẩm. Bà H được nhận lại tiền tạm ng án ph 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0003675 ngày 11/12/2015 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M.

- Án ph phúc thẩm: Miễn án ph phúc thẩm cho bà H, có những người kế th a quyền và ngh a vụ tố tụng là Trần Hữu K, Trần Thanh , Trần Thị AĐ, Trần Duy P và các em Trần Thị KP, Trần Ngọc T.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án.

Cỡ chữ