vanban.org

Bản án 38/2021/HSST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 18/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự đối với bị cáo Lê C - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ C
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2021/HSST
Ngày 18-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN C, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Cẩm Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Thắm;

Bà Nguyễn Kim Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thiện Đại – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2021/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2021/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Lê C, sinh năm 1989 tại tỉnh Bình Dương; địa chỉ: Khu phố 5, phường A, thành phố M, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; cha tên: Lê C, sinh năm 1959, mẹ tên: Nguyễn H (đã chết); tiền án: Ngày 31/10/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố M xử phạt 06 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 207/2019/HS-ST. Ngày 22/11/2019, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, ngày 02/01/2020 bị cáo đóng xong án phí hình sự sơ thẩm; tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 19/02/2013, bị cáo bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 546/QĐ-UB ngày 07/02/2013 của Ủy ban nhân dân thành phố M. Ngày 11/02/2015 bị cáo được miễn chấp hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại theo Quyết định miễn chấp hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại số 10/2015/QĐ-TA ngày 11/02/2015 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Bình Dương;

- Ngày 25/7/2015, bị Ủy ban nhân dân phường A, thành phố M, tỉnh Bình Dương xử phạt số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt hành chính số 80, ngày 25/7/2015, bị cáo đã nộp phạt xong.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/9/2020 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

- Bị hại: Anh Võ D, sinh năm 1987; địa chỉ: Ấp T, xã A, thị xã C, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê C là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, hiện đang sinh sống tại khu phố 5, phường A, thành phố M, tỉnh Bình Dương.

Sáng ngày 29/9/2020, Lê C đang ở nhà thì nam thanh niên tên T - là bạn của C, không rõ nhân thân lai lịch, đến rủ C đến khu vực ngã tư T thuộc ấp T, xã A, thị xã C, tỉnh Bình Dương để trộm chim cảnh bán lấy tiền tiêu xài. C đồng ý và điều khiển xe mô tô hiệu Dream biển số 53Y1-2501 của C chở T đi. Khoảng 03 giờ sáng cùng ngày, cả hai đến trước nhà anh Võ D, phát hiện có treo 02 lồng chim, gồm: 01 lồng chim bằng gỗ hình lăng trụ tròn đứng, sơn màu nâu, bên trong có 01 con chim Chào Mào còn sống; 01 lồng chim bằng gỗ hình trụ vuông, sơn màu vàng, bên trong có 01 con chim Chào Mào còn sống. Lúc này, C dừng xe bên lề đường và cả hai đi vào nhà anh D. Sau khi quan sát không thấy ai xung quanh, Tmở cửa cổng hàng rào đi vào, T lấy lồng chim hình trụ tròn xuống đưa cho C cầm và tiếp tục lấy lồng chim còn lại đi ra xe để đi về. Khi cả hai đến đoạn đường đê bao thuộc khu phố 1, phường A, thành phố M, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng Công an phường A yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Chiến không dừng lại mà tiếp tục điều khiển xe chạy được một đoạn thì bị té ngã, Tính chạy bộ thoát còn Chiến bị lực lựng công an bắt giữ. Vật chứng thu giữ:

- 01 lồng chim bằng gỗ hình lăng trụ tròn đứng, sơn màu nâu, bên trong có 01 con chim Chào Mào còn sống.

- 01 lồng chim bằng gỗ hình trụ vuông, sơn màu vàng, bên trong có 01 con chim Chào Mào còn sống.

- 01 xe mô tô biển số 53Y1-2501 (không kiểm tra được số khung số máy vì bị đục chà mất số, xe không gương bên phải, không bửng, không chìa khóa, xe rỉ sét); số máy: 1P52FMH3064232.

Ngày 30/9/2020, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thị xã C, tỉnh Bình Dương, kết luận: 02 con chim Chào Mào trị giá 3.000.000 đồng; 01 lồng chim bằng gỗ hình lăng trụ tròn trị giá 200.000 đồng; 01 lồng chim bằng gỗ hình trụ vuông trị giá 200.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 3.400.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra Công an thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương:

- Bị cáo C thừa nhận hành vi lấy trộm tài sản của anh Võ D 01 lồng chim bằng gỗ hình lăng trụ tròn đứng, sơn màu nâu, bên trong có 01 con chim Chào Mào còn sống; 01 lồng chim bằng gỗ hình trụ vuông, sơn màu vàng, bên trong có 01 con chim Chào Mào còn sống.

- Bị hại anh Nguyễn D trình bày: Tài sản anh bị bị cáo C lấy trộm là 01 lồng chim bằng gỗ hình lăng trụ tròn đứng, sơn màu nâu, bên trong có 01 con chim Chào Mào còn sống; 01 lồng chim bằng gỗ hình trụ vuông, sơn màu vàng, bên trong có 01 con chim Chào Mào còn sống, đây là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của anh D. Anh D đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại..

Với những tình tiết như trên, tại Cáo trạng số 17/CT – VKSBC ngày 20 tháng 01 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Lê C về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa;

- Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lê C đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê C từ 10 tháng đến 12 tháng tù.

Về biện pháp tư pháp: Căn cứ các Điều 46, 47, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử;

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận anh Võ D đã nhận lại tài sản bị lấy trộm gồm: 01 lồng chim bằng gỗ hình lăng trụ tròn đứng, sơn màu nâu, bên trong có 01 con chim Chào Mào còn sống; 01 lồng chim bằng gỗ hình trụ vuông, sơn màu vàng, bên trong có 01 con chim Chào Mào và không yêu cầu bị cáo C bồi thường thiệt hại về tài sản.

Về vật chứng: Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô biển số 53Y1-2501 (không kiểm tra được số khung số máy vì bị đục chà mất số, xe không gương bên phải, không bửng, không chìa khóa, xe rỉ sét); số máy: 1P52FMH3064232 là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội.

- Bị cáo C thống nhất hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương đã truy tố; thống nhất về tội danh, mức hình phạt, đề nghị xử lý vật chứng, bồi thường thiệt hại về tài sản được thể hiện tại Bản luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ để bị cáo có cơ hội trở lại xã hội, lao động và thành người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện:

Tại phiên toà, Lê C khai nhận: Khoảng 03 giờ ngày 29/9/2020 tại ấp T, xã A, thị xã C, tỉnh Bình Dương, Lê C cùng với người đàn ông tên T – không xác định được nhân thân, lai lịch, đã có hành vi lén lút lấy trộm tài sản của anh Võ D, gồm: 01 lồng chim bằng gỗ hình lăng trụ tròn đứng, sơn màu nâu, bên trong có 01 con chim Chào Mào còn sống; 01 lồng chim bằng gỗ hình trụ vuông, sơn màu vàng, bên trong có 01 con chim Chào Mào còn sống, trị giá tài sản là 3.400.000 đồng. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, Sơ đồ hiện trường, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương đã truy tố. Do đó, hành vi của bị cáo Lê C đã phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tính chất, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tính chất: Hành vi phạm tội của bị cáo C là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo biết rõ việc lấy trộm tài sản của người khác là phạm tội, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét thấy, cần phải xử phạt bị cáo với mức án tù, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định, mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, đồng thời mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.

Về biện pháp tư pháp:

Về trách nhiệm dân sự: Anh Võ D đã nhận lại 01 lồng chim bằng gỗ hình lăng trụ tròn đứng, sơn màu nâu, bên trong có 01 con chim Chào Mào còn sống; 01 lồng chim bằng gỗ hình trụ vuông, sơn màu vàng, bên trong có 01 con chim Chào Mào và không yêu cầu bị cáo Chiến bồi thường thiệt hại về tài sản nên không đặt ra xử lý.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe mô tô biển số 53Y1-2501 (không kiểm tra được số khung số máy vì bị đục chà mất số, xe không gương bên phải, không bửng, không chìa khóa, xe rỉ sét); số máy: 1P52FMH3064232 là phương tiện bị cáo dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội. Theo kết quả tra cứu thể hiện tại Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của Công an thị xã C, tỉnh Bình Dương không xác định được chủ sở hữu hợp pháp, nên cần sung vào Ngân sách Nhà nước.

Đối với nam thanh niên tên T có hành vi cùng với bị cáo C trộm cắp tài sản của anh D. Do không xác định được họ tên, lai lịch nhân thân, nên Cơ quan điều tra Công an thị xã C không đặt ra xử lý trong vụ án này là phù hợp.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điều 46, Điều 47, Điều 48; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Khoản 2 Điều 106; các Điều 135, 136, 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Lê C phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê C 10 (mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/9/2020.

2. Về biện pháp tư pháp:

- Ghi nhận anh Võ D đã nhận lại 01 lồng chim bằng gỗ hình lăng trụ tròn đứng, sơn màu nâu, bên trong có 01 con chim Chào Mào còn sống; 01 lồng chim bằng gỗ hình trụ vuông, sơn màu vàng, bên trong có 01 con chim Chào Mào và không yêu cầu bị cáo C bồi thường thiệt hại.

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô biển số 53Y1-2501 (không kiểm tra được số khung số máy vì bị đục chà mất số, xe không gương bên phải, không bửng, không chìa khóa, xe rỉ sét); số máy: 1P52FMH3064232.

(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã C theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/02/2021).

3. Về án phí:

Bị cáo Lê C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại anh Võ Trường Duy có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Cỡ chữ