- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Ngô Tuấn N 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Bản án số: 38/2021/HS-ST Ngày: 05/8/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mộng Trinh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Xuân An và ông Trần Văn Lương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh H, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tham gia phiên tòa: Ông Trương Phước Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2021, tại Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2021/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:
Ngô Tuấn N, sinh ngày 12/02/1983 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn L, xã Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Thợ hàn; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con của ông Ngô Tá G và bà Võ Thị G; có vợ (đã ly hôn) là Phan Thị Mộng L; có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 03/5/2021 đến ngày 06/5/2021 được thả tự do. Sau đó bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/5/2021 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Thảo Thắng; người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Văn T; địa chỉ: Thôn Chiết Bi, phường Phú Thượng, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế; người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 04/5/2021): Ông Nguyễn Phước Q; địa chỉ: Tổ dân phố Giáp Nhất, phường Hương Văn, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Phước Q; nơi cư trú: Tổ dân phố Giáp Nhất, phường Hương Văn, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Phước H; nơi cư trú: Tổ dân phố Giáp Nhất, Hương Văn, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 03 tháng 5 năm 2021, Ngô Tuấn N điều khiển xe mô tô BKS 75G1-082.40 chạy trên đường Quốc lộ 1A theo hướng Đông Hà - Huế để về nhà. Khi chạy nGng vòng xuyến giao nhau giữa đường Quốc lộ 1A - đường tránh Huế, thuộc địa phận phường Hương Văn, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, N quan sát thấy phía bên trái đường theo hướng di chuyển của mình có 01 xe ô tô tải BKS 75C- 074.38 do anh Nguyễn Phước Q quản lý đang đỗ ở dọc đường Trần Hưng Đạt. N nảy sinh ý định trộm cắp bình điện nên quay xe mô tô chạy vào đường Trần Hưng Đạt rồi dừng lại cạnh xe ô tô, N đi đến phía bên trái của xe ô tô dùng tay mở ốp nhựa bảo vệ bình điện lên thì thấy bên trong có 02 bình điện nhãn hiệu GS thân vỏ màu đen chữ màu vàng được nẹp cố định bằng thanh sắt giằng phía trên nên N đến lấy trong cốp xe mô tô của mình 01 cờ lê 13 để mở ốc vít của thanh sắt. Khi N đang tháo thanh sắt để lấy bình điện thì anh Nguyễn Phước H phát hiện sự việc nên đến hỏi N đang làm gì. Do hoảng sợ, N bỏ chạy thì bị anh H giữ lại và trình báo Cơ quan công an.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Ngô Tuấn N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Ngày 04/5/2021, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Hương Trà đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Hương Trà xác định giá trị thiệt hại tại thời điểm bị chiếm đoạt của 02 bình điện ắc quy nhãn hiệu GS thân vỏ màu đen, chữ màu vàng.
- Tại bản kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 05/5/2021, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Hương Trà kết luận 02 bình điện ắc quy nhãn hiệu GS thân vỏ màu đen, chữ màu vàng có giá trị 6.320.000 đồng (Sáu triệu ba trăm hai mươi ngàn đồng).
Vật chứng thu giữ gồm:
- 02 bình điện ắc quy nhãn hiệu GS đã qua sử dụng; 01 hóa đơn bán lẻ của Công ty TNHH TMDV ô tô Minh Đồng Tâm, lập ngày 25/4/2020; 01 xe mô tô BKS 75G1- 082.40; 01 cờ lê 19 kim loại màu trắng; 01 cờ lê 22 kim loại màu trắng; 01 búa có đầu bằng kim loại, cán bằng gỗ.
Ngày 07/5/2021 và ngày 28/5/2021, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Hương Trà ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại 02 bình điện nhãn hiệu GS, 02 cờ lê, 01 búa cho anh Nguyễn Phước Q và Ngô Tuấn N.
Đối với 01 cờ lê 13, bị can Ngô Tuấn N khai nhận quá trình bị phát hiện đã vứt ở khu vực ruộng xung quanh. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Phước Q không có yêu cầu bồi thường dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị can.
Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKSHT ngày 10/6/2021, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà đã truy tố bị cáo Ngô Tuấn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự để tuyên bố bị cáo Ngô Tuấn N phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng. Về dân sự: Không có yêu cầu nên đề nghị không xem xét. Về xử lý vật chứng: Đề nghị trả lại cho chủ sở hữu 01 xe mô tô BKS 75G1- 082.40 tiếp tục lưu hồ sơ 01 hóa đơn bán lẻ của Công ty TNHH TMDV ô tô Minh Đồng Tâm
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố; thành khẩn xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, làm công dân tốt cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Hương Trà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội, đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 10 giờ 50 phút ngày 03/5/2021, tại đường Trần Hưng Đạt, thuộc tổ dân phố Giáp Nhất, phường Hương Văn, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, Ngô Tuấn N đang thực hiện hành vi trộm cắp 02 bình điện của xe ô tô BKS 75C-074.38 do anh Nguyễn Phước Q quản lý thì bị phát hiện bắt quả tang. Giá trị tài sản chiếm đoạt là 6.320.000 đồng (Sáu triệu ba trăm hai mươi ngàn đồng).
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam, muốn có tiền tiêu xài mà không lao động nên đã cố ý tình thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng số 28/CT-VKSHT ngày 10/6/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào mà được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Phạm tội nhưng nhưng chưa gây thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại các điểm h, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Tội phạm do bị cáo thực hiện đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thị xã Hương Trà. Tuy nhiên, cần xem xét cho bị cáo nhất thời phạm tội không có sự chuẩn bị từ trước; có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có công việc làm và nơi cư trú rõ ràng. Do đó, xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo như đề nghị của Viện Kiểm sát cũng đủ để trừng phạt, cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và cũng như tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô BKS 75G1- 082.40 là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần trả lại; 01 hóa đơn bán lẻ của Công ty TNHH TMDV ô tô Minh Đồng Tâm cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án để đảm bảo việc xét xử.
Về trách nhiệm dân sự: Không có ai yêu cầu bồi thường gì thêm đối với nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo Ngô Tuấn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Ngô Tuấn N 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Ngô Tuấn N cho Ủy ban nhân dân xã Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Trả lại 01 xe mô tô BKS 75G1- 082.40 cho chủ sở hữu Ngô Tuấn N; tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ 01 hóa đơn bán lẻ của Công ty TNHH TMDV ô tô Minh Đồng Tâm
(Các vật chứng trên có đặc điểm như miêu tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/6/2021 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Hương Trà với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Trà).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Ngô Tuấn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh T.T.Huế; - VKSND thị xã Hương Trà; - CA thị xã Hương Trà; - Chi cục THA thị xã Hương Trà; - THA; - Bị cáo; - Người ĐDHP của bị hại; - Người có qlnvlq; - Lưu hồ sơ, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Mai Thị Mộng Trinh |