- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị H phạm tội Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thị H phạm tội Giết người.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2021/HS-ST Ngày 19/7/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn
Thẩm phán: Bà Vũ Thị Yển
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thà, ông Phạm Công Định và ông Hoàng Sĩ Quang
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân tỉnh Hải Dương
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2021/HSST-QĐ ngày 02 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:
Lê Thị H, sinh năm 1958, tại Hải Dương; nơi đăng ký thường trú, nơi sinh sống: Thôn Đ, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/10; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Duy H1 và bà Nguyễn Thị B; có chồng là Lê Văn M (tên gọi khác là Lê Xuân M) và 01 con sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt tạm giam từ ngày 02/4/2021 đến nay, tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hải Dương; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lưu Thị H2 - Luật sư Văn phòng luật sư Tâm Á thuộc Đoàn luật sư tỉnh Hải Dương; địa chỉ: Số 615 đường L, phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương; bào chữa cho bị cáo H; có mặt.
- Bị hại: Ông Lê Văn L, sinh năm 1969; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương; có mặt.
- Người làm chứng:
+ Bà Phạm Thị Th, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương.
+ Cháu Lê Văn H3, sinh năm 2004; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương. Người đại diện cho cháu H3: Bà Phạm Thị Th, là mẹ đẻ.
+ Anh Lê Văn H4, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương.
Người làm chứng đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thị H là mẹ kế của ông Lê Văn L, sinh năm 1969, ở cùng thôn tại thôn Đ, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương. Khoảng 07 giờ 00 phút, ngày 14/02/2021, H ra ruộng của ông L đã cho H mượn trước đây để làm cỏ và nhổ hành thì thấy ông L và vợ là bà Phạm Thị Th đang thu hoạch rau cần trên mảnh ruộng sát cạnh ruộng nhà H. H thấy vợ chồng ông L liền nghĩ lại việc trước đây vào năm 2020, khi đang canh tác trên ruộng bị ông L đòi lại ruộng xô xát đánh nhau với H. Lúc này H nảy sinh ý định đầu độc giết ông L. Khoảng 7 giờ 30 phút cùng ngày, bà Th mang rau cần ra chợ bán, đến khoảng 9 giờ thì ông L về nhà pha chè uống sau quay ra ruộng làm tiếp. Khi H nhìn thấy ông L đi ra ruộng, H liền đi về nhà ra khu vực chuồng gà lấy 01 (một) ống thuốc diệt chuột mà H đã mua từ trước, với mục đích đổ thuốc diệt chuột vào ấm nước chè trong nhà ông L để đầu độc giết chết ông L. H cầm ống thuốc diệt chuột đi sang nhà ông L, không thấy có ai ở nhà, H liền đi vào phòng khách thấy trên bàn uống nước có ấm nước chè pha sẵn mà ông L uống trước đó, H mở lắp ấm vặn lọ thuốc diệt chuột đổ vào trong ấm nước chè, đậy lắp ấm chè lại rồi đi về, khi ra đến sân thì gặp cháu Lê Văn H3 là con ông L. H chào hỏi cháu H3 là đi sang tìm con mèo, hỏi cháu H3 có thấy con mèo nào không. Cháu H3 trả lời không thấy thì H đi thẳng ra ruộng, thấy ông L vẫn đang nhổ rau cần. Trên đường đi ra ruộng, H đã vứt vỏ ống thuốc diệt chuột đi.
Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, ông L nghỉ làm và đi về nhà, rót nước từ ấm nước chè trên bàn mà H bỏ thuốc chuột vào ra chén để uống thì thấy nước chè có màu hồng, mùi thuốc trừ sâu. Ông L nghi ngờ có người đã bỏ thuốc độc vào ấm chè đầu độc gia đình mình. Ông L đã dùng một ống xi lanh bằng nhựa hút nước chè trong chén nước chè mà ông L mới rót, đổ cho con gà nhà mình uống, một lúc sau thì con gà chết. Ông L phát hiện ở vị trí xung quanh ấm chè có nhiều giọt dung dịch màu hồng trên mặt bàn, ông L đã lấy một tờ giấy ăn lau những giọt dung dịch này và trình báo Công an huyện Gia Lộc, Hải Dương.
Tại bản Kết luận giám định số: 1191/C09-P4 ngày 22/02/2021, Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: Các mẫu vật gửi giám định gồm: 01 (một) ấm sứ, bên trong có bã chè và chất lỏng màu hồng; 01 (một) chén sứ màu trắng và 01 (một) chai nhựa đựng chất lỏng màu hồng thu trong chén sứ; 01 (một) xi lanh nhựa loại 06ml; 01 mảnh giấy ăn màu trắng bị vò nhàu có các dấu vết màu hồng. Trong các mẫu vật gửi giám định đều tìm thấy bromadiolone, thuộc nhóm độc I, có liều gây chết trung bình (LD50) đối với chuột qua đường miệng là 1,125mg/kg thể trọng. Bromadiolone là chất có tác dụng chống đông máu, trong nông nghiệp được sử dụng làm thuốc trừ chuột (diệt chuột). Ngộ đọc bromadiolone gây rối loạn đông máu và xuất huyết nội tạng.
Tại Văn bản số: 661/C09-P4 ngày 31/3/2021 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an, về việc giải thích giám định: Bromadiolone là chất có tác dụng chống đông máu, trong nông nghiệp được dùng làm thuốc trừ chuột (diệt chuột), là chất độc hại với con người. Ngộ độc bromadiolone (qua đường ăn, uống) gây xuất huyết nội tạng và ngăn cản quá trình đông máu do ức chế tổng hợp vitamin K trong cơ thể, ngộ độc nặng có thể gây tử vong.
Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hải Dương trưng cầu giám định âm thanh đoạn ghi âm do anh Lê Văn H4 cung cấp, có một số đoạn hội thoại thể hiện: “Giọng nam: Tại sao bà lại cho thuốc chuột vào, thế thì công an điều tra ra biết thì làm thế nào. Giọng nữ: Thì nó điều tra ra thì nó biết. Tao cũng nhận cơ mà. Tao không cãi. Giọng nam: Bà biết tội ấy là nặng không. Giọng nữ: Tao biết nặng, nhưng tao nghĩ nó cay quá, tao không nghĩ gì. Giọng nam: Thế chẳng may ông ấy lăn đùng ra chết thì thế nào. Giọng nữ: Chết tao đi tù. Giọng nam: Bây giờ nhá, bà cho thuốc chuột vào cái ấm chè ông L, ông L ông ấy uống, lúc đấy lại có tốp khách nào đấy, ông L ông rót ấm chè này vào mời khách có phải chết hàng loạt không. Giọng nữ: Thì tao đi tù.”
Tại Kết luận giám định số: 2936 ngày 14/6/2021, Viện khoa học hình sự - Bộ Công an, kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong tệp âm thanh gửi giám định. Tiếng nói của người phụ nữ tự xưng là “tao” và được gọi là ‘bà” trong tệp âm thanh cần giám định và tiếng nói của Lê Thị H trong mẫu so sánh là của cùng một người.
Quá trình điều tra, bị cáo H khai nhận về hành vi như nêu trên.
Tại Cáo trạng số: 43/CT-VKS-P1 ngày 22/6/2021, Viện kiểm sát nhân tỉnh Hải Dương truy tố Lê Thị H về tội Giết người theo quy định tại điểm l khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo H khai nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000 đồng. Bị hại đề nghị giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo H trình bày: Nhất trí quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại và áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt mức từ 7 năm đến 12 năm tù.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Thị H phạm tội Giết người; áp dụng điểm l khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thị H từ 14 năm đến 15 năm năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 02/4/2021. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Lê Thị H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại, lời khai người làm chứng, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 9 giờ ngày 14/02/2021, tại nhà ở của ông Lê Văn L, ở thôn Đ, xã T, huyện G, tỉnh Hải Dương, Lê Thị H dùng 01 ống thuốc diệt chuột chứa chất bromadiolone, thuộc nhóm độc I, gây rối loạn đông máu và xuất huyết nội tạng, ngộ độc nặng có thể gây tử vong, đổ vào ấm nước chè pha sẵn để trên bàn trong nhà ông Lê Văn L, nhằm đầu độc giết ông L. Khi rót nước chè ra uống, ông L phát hiện và trình báo Cơ quan điều tra nên hậu quả chưa xảy ra.
Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Chỉ vì mâu thuẫn với bị hại về việc tranh chấp ruộng canh tác, bị cáo đã sử dụng thuốc diệt chuột đổ vào ấm nước chè pha sẵn trên bàn nhà bị hại, nhằm đầu độc giết bị hại. Hành vi của bị cáo có thể gây nên hậu quả chết người đối với bị hại mà còn có khả năng làm chết nhiều người. Trong vụ án này, ông L đã kịp thời phát hiện nên hậu quả chết người không xảy ra là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Giết người thuộc trường hợp “Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người” theo quy định tại điểm l khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự. Như vậy, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương đối với bị cáo về tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo đã tác động nhờ người thân bồi thường thiệt hại cho bị hại; thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của bị hại chưa xảy ra; tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có chồng là người có công với Nhà nước được tặng thưởng Huy chương kháng chiến, có con trai đã tình nguyện xung phong đi nghĩa vụ quân sự, được UBND xã Tân Tiến, huyện Gia Lộc tặng Giấy khen nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Về hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nên Tòa án áp dụng Điều 15, Điều 57 của Bộ luật Hình sự khi lượng hình đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Hành vi của bị cáo mặc dù chưa gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng nhưng đã gây nên tâm lý hoang mang, lo sợ cho bị hại. Tại phiên tòa, bị cáo và bị hại tự nguyện thỏa thuận bồi thường số tiền 5.000.000 đồng, Tòa án ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này. Đối với bộ ấm chén sứ, bị cáo đã bỏ thuốc diệt chuột vào nên không còn sử dụng được, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Tòa án không phải giải quyết.
Về vật chứng: Đối với 01 ấm sứ màu trắng - xanh là công cụ bị cáo H sử dụng vào việc phạm tội; 01 chén sứ màu trắng - hồng; 01 xi lanh bằng nhựa màu trắng - đen là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi, đề nghị được miễn án phí nên Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm l khoản 1 Điều 123, điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 15, Điều 57, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Lê Thị H phạm tội Giết người.
2. Xử phạt bị cáo Lê Thị H 12 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 02/4/2021.
3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo Lê Thị H và bị hại ông Lê Văn L về việc bị cáo H tự nguyện bồi thường cho ông L số tiền 5.000.000 đồng (Đã giao nhận tiền xong tại phiên tòa).
4. Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 01 ấm sứ màu trắng - xanh; 01 chén sứ màu trắng - hồng và 01 xi lanh bằng nhựa màu trắng - đen, được niêm phong trong 01 hộp bìa cát tông, có dấu của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Hải Dương và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương ngày 14/7/2021).
5. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Thị H.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Hải Dương; - CQCSĐT, CQTHAHS - CA tỉnh Hải Dương; - Phòng HSNV - CA tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam - CA tỉnh Hải Dương; - Cục THADS tỉnh Hải Dương; - Bị cáo; - Bị hại; - Người bào chữa; - Lưu: VP, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Sơn |