vanban.org

Bản án 38/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 25/02/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Triệu Thái T và Nguyễn Thanh H ph m tội “Cướp tài sản”.

Xử ph t bị cáo Triệu Thái T 09 (ch n) năm tù, thời h n chấp hành hình ph t tù t nh từ ngày 27/4/2020. Xử ph t bị cáo Nguyễn Thanh H 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời h n chấp hành hình ph t tù t nh từ ngày 27/4/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "38. Triệu Thái T và đp - 168 - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Triệu Thái T và Nguyễn Thanh H ph m tội “Cướp tài sản”.
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38 /2021/HS-ST
Ngày 25 - 02 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phúc.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thanh Vân.

Bà Nguyễn Thị Kim Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Sơn Tùng – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Mai Ngọc Linh – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2021, t i tr s Tòa án nh n d n u n 8, Thành phố Hồ Ch Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số: 240/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2020, theo uyết định đưa v án ra xét xử số: 40/2021/ ĐXXST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2021, đối với các bị cáo:

1. Triệu Thái T; sinh năm 1999, t i Long An; nơi cư trú (Hộ khẩu thường trú: Ấp 6, xã T, huyện T.T, tỉnh Long An; chỗ : E22/56 ấp 5, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Ch Minh); nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: 9/12; d n tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Triệu H T và bà Nguyễn Thị T; vợ con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt, t m giữ, t m giam từ ngày 27/4/2020 đến nay. (có mặt)

2. Nguyễn Thanh H; sinh năm 1999, t i Thành phố Hồ Ch Minh; nơi cư trú: A23/4C ấp 1, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Ch Minh; nghề nghiệp: Thợ sửa xe; trình độ học vấn: 9/12; d n tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T C (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ngọc L; Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 04/02/2020, Công an huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Ch Minh ra uyết định xử ph t vi ph m hành ch nh đối với Nguyễn Thanh H về hành vi “Đánh nhau” theo quy định t i điểm a Khoản 2 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Ch nh phủ, ph t với số tiền 750.000 đồng. Ngày 30/03/2020, Nguyễn Thanh H hoàn thành xong việc nộp ph t số tiền 750.000 đồng

Bị bắt, t m giữ, t m giam từ ngày 27/4/2020 đến nay. (có mặt)

- Bị hại: Bà Hồ Thị P, sinh năm: 1973; nơi cư trú: Khu phố B, thị trấn V, huyện V,

tỉnh Long An. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm:

1954; nơi cư trú: c3/81 ấp 3, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Ch Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Triệu Thái T làm nghề bốc xếp t i khu vực chợ cá thuộc chợ B.Đ Phường B, u n T, T theo dõi và biết chị Hồ Thị P mang theo 01 (một) giỏ xách màu đen bên trong chứa nhiều tiền và tài sản có giá trị nên T nảy sinh ý định cướp tài sản của chị P. T bàn b c và rủ Nguyễn Thanh H (b n của T) cùng thực hiện thì H đồng ý. Để thực hiện ý định, cả hai cùng bàn b c thời gian và địa điểm thực hiện hành vi ph m tội. T chuẩn bị 01 c y dao bấm làm bằng kim lo i, cán dao ốp nhựa màu đen và 01 c y súng bắn điện làm bằng kim lo i màu đen (T khai mua hai hung kh trên vào năm 2019 của một người không rõ lai lịch bán t i lề đường, không xác định được nơi mua). Trong quá trình bàn b c, T ph n công nhiệm v cho H đứng ngoài nổ máy xe mô tô chờ sẵn khi nào T cướp được tài sản sẽ leo lên xe để tẩu thoát. Khoảng 23 giờ ngày 25/04/2020, H điều khiển xe mô tô biển số: 59L1 – 901.73 ch y qua nhà trọ của T, ch T đến chợ B.Đ tìm chị P. Cả hai dừng xe t i ngã ba giao nhau giữa đường A chợ B.Đ Phường B, u n T, Thành phố Hồ Ch Minh và đường , Phường B, u n T, Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 23 giờ 50 phút cùng ngày, T và H phát hiện chị P trên người có đeo 01 (một) giỏ xách màu đen đi ngang qua chỗ đứng của T và H. Do còn lo sợ nên T và H chưa dám thực hiện hành vi như dự t nh. Ngoài ra, T và H cũng muốn tìm hiểu về lịch trình, giờ giấc đi l i của chị P để ph c v cho việc thực hiện hành vi ph m tội. Sau đó, T kêu H ch về nhà.

Khoảng 22 giờ 00 ngày 26/04/2020, T điều khiển xe mô tô biển số: 62E1 – 25836 đến chợ B.Đ gửi xe t i bãi giữ xe số 5, chợ B.Đ và đi vào chợ tìm chị P. Khi đi, T mang theo dao và súng điện chuẩn bị trước đó cất giữ trong người để thực hiện hành vi ph m tội. Khoảng 23 giờ 30 cùng ngày, H điều khiển xe mô tô biển số: 59L1 – 901.73 đến địa điểm trên đứng cách T khoảng 4m30, theo bàn b c từ trước, H sẽ nổ máy chờ sẵn. Khoảng 00 giờ 10 ngày 27/04/2020, T thấy chị P trên người có đeo 01 (một) giỏ xách màu đen bên trong có đựng số tiền: 121.100.000 đồng đi bộ từ nhà lồng F thuộc chợ B.Đ, Phường B, Qu n T, Thành phố Hồ Chí Minh ra đường , Phường 7, Qu n 8, Thành phố Hồ Chí Minh để đi đến đường A chợ B.Đ. T đứng chờ chị P đi qua chỗ T được khoảng 20m thì T ch y bộ đến ph a sau chị P, dùng tay phải gi t d y giỏ xách của chị P, đồng thời dùng tay trái cầm súng bắn điện bắn 01 (một) cái vào vai trái của chị P làm chị P ngã xuống đường. Chị P dùng hai tay ôm lấy giỏ xách, T dùng tay phải tiếp t c giằng co, cướp giỏ xách nhưng không thực hiện được. Đồng thời lúc này, chị P tri hô “cướp, cướp” nên T bỏ ch y ra xe H đang đứng đợi sẵn để tẩu thoát. Khi T vừa ngồi lên xe thì bị anh Ph m Văn A (tài xế) ch y đến, dùng ch n phải đ p m nh vào xe làm cả hai ngã xuống đường. Anh Ph m Văn A, chị Hồ Thị P cùng người d n xung quanh bắt giữ H. Bị anh Ph m Văn A truy đuổi nên T bỏ ch y hướng ra sông C, Phường B, u n T, Thành phố Hồ Ch Minh. Khi đến bờ sông C, T nhảy xuống sông để tẩu thoát. Do không biết bơi, T bị dòng nước cuốn trôi phải bám vào một chiếc ghe đ u bên bờ sông C. Sau đó T bị anh Ph m Văn A và người d n bắt giữ. Anh Ph m Văn A đưa T và H cùng toàn bộ v t chứng về tr s Công an Phường B, u n T, Thành phố Hồ Ch Minh l p biên bản bắt người ph m tội quả tang. Sau đó, chuyển cho cơ quan cảnh sát điều tra Công an u n 8 th lý theo thẩm quyền.

Ngày 19/05/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố t ng hình sự kết lu n: trị giá 01 chiếc giỏ xách là 100.000 đồng.

Ngày 01/5/2020, Cơ quan điều tra Công an u n 8 kh i tố v án, kh i tố bị can đối với Triệu Thái T và Nguyễn Thanh H để điều tra về tội “Cướp tài sản”. Quá trình điều tra, T và H khai nh n hành vi ph m tội của mình.

V t chứng v án:

- 01 (một) giỏ xách bằng vải màu đen và số tiền 121.100.000 đồng là tài sản hợp pháp của chị Hồ Thị P. Ngày 21/08/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an u n 8 ra uyết định xử lý v t chứng trả cho chị Hồ Thị P số tài sản trên. Chị P không yêu cầu bồi thường gì thêm.

- 01 (một) c y dao bấm làm bằng kim lo i màu trắng dài 19,5 cm.

- 01 chiếc xe gắn máy và 01 (một) giấy chứng nh n đăng k chủ s hữu xe mô tô biển số: 59L1 – 901.73. Qua xác minh, xe mô tô này do bà Nguyễn Thị S đứng tên chủ s hữu. Bà S cho H là cháu bà S mượn đi công việc. H sử d ng xe để thực hiện hành vi ph m tội bà S không biết.

- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ - đen, biển số: 62E1 – 258.36. Qua xác minh, xe mô tô trên do Triệu Thái T đứng tên chủ s hữu. Triệu Thái T gửi xe bãi giữ xe số 5 chợ B.Đ, rồi đi bộ đến địa điểm thực hiện hành vi ph m tội.

- 01 (một) điện tho i di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7 màu xanh dương, tình tr ng bị ngấm nước, không kiểm tra được thông tin máy. Đ y là tài sản của Triệu Thái T sử d ng vào việc liên l c với Nguyễn Thanh H để hẹn thời gian, địa điểm thực hiện hành vi cướp tài sản.

- 01 (một) điện tho i di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6 màu đen có số IMEI: 358466109128664010. Đ y là tài sản của Nguyễn Thanh H sử d ng vào việc liên l c với Triệu Thái T để hẹn thời gian, địa điểm thực hiện hành vi cướp tài sản.

T i bản Cáo tr ng số 07/CT-VKS ngày 14/12/2020, Viện kiểm sát nh n d n u n 8, Thành phố Hồ Ch Minh truy tố các bị cáo Triệu Thái T và Nguyễn Thanh H về tội “Cướp tài sản”, theo các điểm d, đ khoản 2 Điều 168 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

T i phiên tòa,

Kiểm sát viên đ i diện Viện kiểm sát nh n d n u n 8, Thành phố Hồ Ch Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Triệu Thái T và Nguyễn Thanh H về tội “Cướp tài sản”. Sau khi ph n t ch, đánh giá t nh chất, mức độ nguy hiểm của hành vi ph m tội, Viện kiểm sát đề nghị như sau:

Về trách nhiệm hình sự: Áp d ng các điểm d, đ khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 58 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử ph t bị cáo Triệu Thái T từ 09 năm đến 10 năm tù; xử ph t bị cáo Nguyễn Thanh H từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng tù; không áp d ng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý v t chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) c y dao bấm làm bằng kim lo i màu trắng dài 19,5 cm.

- Trả l i 01 xe gắn máy và 01 (một) giấy chứng nh n đăng k chủ s hữu xe mô tô biển số: 59L1 – 901.73 cho bà Nguyễn Thị S.

- Tịch thu nộp ng n sách Nhà nước: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ - đen, biển số: 62E1 – 258.36; 01 (một) điện tho i di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7 màu xanh dương, tình tr ng bị ngấm nước, không kiểm tra được thông tin máy; 01 (một) điện tho i di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6 màu đen có số IMEI: 358466109128664010.

- Về tài sản bị chiếm đo t đã trả l i cho bị h i nên không xem xét giải quyết. Về trách nhiệm d n sự, bị h i không có yêu cầu bồi thường nên không đề c p giải quyết.

Các bị cáo không có ý kiến tranh lu n; các bị cáo thừa nh n hành vi ph m tội, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình ph t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an u n 8, Điều tra viên, Viện kiểm sát nh n d n u n 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ lu t tố t ng hình sự. uá trình điều tra, truy tố và t i phiên tòa hôm nay, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

T i phiên tòa, các bị cáo đã khai nh n hành vi phù hợp với lời khai t i cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai bị h i, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án, xác định vào khoảng 00 giờ 10 ngày 27/04/2020, t i nhà lồng F thuộc chợ B.Đ, Phường B, u n T, Thành phố Hồ Ch Minh, các bị cáo Triệu Thái T và Nguyễn Thanh H có hành vi dùng vũ lực bằng hình thức dùng súng bắn điện bắn vào vai trái của chị Hồ Thị P, làm cho chị P ngã xuống đường, rồi giằng co chiếm đo t một giỏ xách chứa số tiền 121.100.000 đồng. Hành vi của các bị cáo đã kịp thời bị phát hiện và bị bắt giữ sau đó. Các bị cáo sử d ng dao bấm, súng điện thực hiện hành vi ph m tội là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định t i điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ lu t hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Ngoài ra, T và H chiếm đo t tài sản có giá trị trên 50.000.000 đồng, là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định t i điểm đ khoản 2 Điều 168 Bộ lu t hình sự.

Điều 168 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Cướp tài sản” như sau:

“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

…

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.”

Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, đã x m ph m đến quyền s hữu tài sản của cá nh n được pháp lu t bảo vệ. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản”, tội ph m và hình ph t đối với các bị cáo được quy định t i các điểm d, đ khoản 2 Điều 168 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Hành vi ph m tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xét t nh nghiêm trọng của tội ph m mà các bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình ph t tù có thời h n nhằm cải t o, giáo d c các bị cáo tr thành người có ch, có ý thức tu n theo pháp lu t và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa ph m tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội ph m trong xã hội.

Về nh n th n, bị cáo Nguyễn Thanh H từng bị Công an huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Ch Minh ra uyết định xử ph t vi ph m hành ch nh về hành vi “Đánh nhau”. Cho thấy bị cáo có nhân thân xấu, do đó khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét để có mức hình ph t phù hợp với nh n th n của bị cáo.

Trong v án, các bị cáo thực hiện hành vi ph m tội có t nh chất đồng ph m. Các bị cáo có sự bàn b c và có sự chuẩn bị công c phương tiện ph m tội. Bị cáo T là người kh i xướng, rủ rê và trực tiếp chiếm đo t tài sản; bị cáo H là đồng ph m giúp sức t ch cực. Do đó, khi lượng hình, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 58 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét, quyết định hình ph t phù hợp với t nh chất, vai trò từng bị cáo.

Cáo tr ng Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội “Cướp tài sản” là có cơ s , đúng người, đúng tội. Mức hình ph t mà Viện kiểm sát nh n d n u n 8 đề nghị áp d ng đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với t nh chất, mức độ nguy hiểm của hành vi ph m tội nên có căn cứ chấp nh n. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và t i phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; tài sản đã thu hồi trả l i cho bị h i. Do đó, Hội đồng xét xử áp d ng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình ph t đối với các bị cáo.

Xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo t i phiên tòa đều cho thấy các bị cáo là lao động tự do, thu nh p không ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn, nên Hội đồng xét xử không áp d ng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý v t chứng: Tài sản do các bị cáo chiếm đo t của bị h i gồm: 01 (một) giỏ xách bằng vải màu đen và số tiền 121.100.000 đồng đã được Cơ quan điều tra xử lý bằng hình thức trả l i cho chị P. Chị P không có ý kiến, yêu cầu gì liên quan đến việc t m giữ, xử lý v t chứng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

01 chiếc xe gắn máy và 01 (một) giấy chứng nh n đăng k chủ s hữu xe mô tô biển số: 59L1 – 901.73. Qua xác minh, xe mô tô này do bà Nguyễn Thị S đứng tên chủ s hữu. Bà S cho H là cháu bà S mượn đi công việc. H sử d ng xe trên để thực hiện hành vi ph m tội bà S không biết, không liên quan đến bà S, nên tuyên trả xe trên cho bà S.

- 01 (một) c y dao bấm làm bằng kim lo i màu trắng dài 19,5 cm không có giá trị sử d ng nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ - đen, biển số: 62E1 – 258.36. Qua xác minh, xe mô tô trên do Triệu Thái T đứng tên chủ s hữu. Triệu Thái T gửi bãi giữ xe rồi đi bộ đến địa điểm thực hiện hành vi ph m tội; 01 (một) điện tho i di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7 màu xanh dương, tình tr ng bị ngấm nước, không kiểm tra được thông tin máy. Đ y là tài sản của Triệu Thái T sử d ng vào việc liên l c với Nguyễn Thanh H để hẹn thời gian, địa điểm thực hiện hành vi cướp tài sản; 01 (một) điện tho i di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6 màu đen có số IMEI: 358466109128664010. Đ y là tài sản của Nguyễn Thanh H sử d ng vào việc liên l c với Triệu Thái T để hẹn thời gian, địa điểm thực hiện hành vi cướp tài sản, nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Về trách nhiệm d n sự: Bị h i không yêu cầu nên không xem xét.

Về án ph hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định t i các điều 23, 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTV H14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v uốc hội, các bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Triệu Thái T và Nguyễn Thanh H ph m tội “Cướp tài sản”.

- Căn cứ vào các điểm d, đ khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử ph t bị cáo Triệu Thái T 09 (ch n) năm tù, thời h n chấp hành hình ph t tù t nh từ ngày 27/4/2020.

Xử ph t bị cáo Nguyễn Thanh H 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời h n chấp hành hình ph t tù t nh từ ngày 27/4/2020.

- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự.

Trả cho bà Nguyễn Thị S: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển số: 59L1- 901.73, số khung FC30EY043704, số máy 1FC3043711 và 01 (một) giấy chứng nh n đăng ký chủ s hữu xe mô tô biển số: 59L1 – 901.73.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) c y dao bấm làm bằng kim lo i màu trắng dài 19,5 cm.

Tịch thu nộp ng n sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ

- đen, biển số: 62E1 – 258.36, số khung RLHJF5831KY267425, số máy JF86E-2277465; 01 (một) điện tho i di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7 màu xanh dương, tình tr ng: thấm nước, không kiểm tra được thông tin máy; 01 (một) điện tho i di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6 màu đen, số IMEI: 358466109128664010.

(Theo Biên bản giao, nh n v t chứng ngày 23/11/2020)

- Căn cứ vào các điều 135, 136 của Bộ lu t Tố t ng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTV H14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v uốc hội.

Buộc mỗi bị cáo Triệu Thái T và Nguyễn Thanh H nộp 200.000 đồng án ph hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị h i, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án vắng mặt t i phiên toà có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày, t nh từ ngày nh n được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp lu t.

Cỡ chữ