vanban.org

Bản án 38/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hải Châu, TP Đà Nẵng Tuyên án 24/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Dương Đình H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Dương Đình H 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 24/11/2020. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Đình H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q.HẢI CHÂU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 38 /2021/HS-ST
Ngày 24-3-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xoa

Ông Nguyễn Văn Sanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quốc - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Dương Đình H, tên gọi khác: B, sinh ngày 04 tháng 01 năm 1992 tại Đà Nẵng. Nơi ĐKHKTT: K76/H17/8 H, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Chỗ ở: K236/45B T, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Đình D (đã chết) và bà Bùi Thị S, sinh năm: 1963; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con lớn nhất. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2015 và năm 2017, bị áp dụng xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 163/2015/QĐ-TA ngày 17/11/2015 và Quyết định số 14/2017/QĐ-TA ngày 03/3/2017 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê.

Bị cáo bị tạm giữ tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Hải Châu từ ngày 24/11/2020, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty TNHH MTV T1. Địa chỉ: 207 H, quận T, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: Bà Huỳnh Thị Lệ T2 – Giám đốc, có mặt.

Người làm chứng: Ông Lê Văn T3, sinh năm: 1960. Địa chỉ: Tổ 72 phường Hòa Cường Nam, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 23.11.2020, Dương Đình H đến khu vực bến xe Trung tâm thành phố Đà Nẵng gặp M1 (chưa xác định được lai lịch) mua 01 gói ma túy đá giá 300.000 đồng. H mang về sử dụng, còn lại một ít cất trong túi áo khoác. Đến sáng ngày 24.11.2020, H điều khiến xe mô tô hiệu Honda Lead màu đỏ, biển kiểm soát 43D1-214.64 đến khu Công nghiệp H, quận C, thành phố Đà Nẵng gặp một người bạn tên M2 (chưa xác minh được lai lịch), nhờ M2 giới thiệu H chỗ bán ma túy chất lượng thì M2 đồng ý rồi dùng điện thoại của H gọi cho một thanh niên (chưa xác minh được lai lịch) hỏi mua ma túy giúp cho H thì người ngày đồng ý bán và hẹn đến khu vực bệnh viện D, thành phố Đà Nẵng để giao ma túy. Khi H đến nơi gặp đưa cho người thanh niên này 150.000 đồng và nhận 01 gói nilong chứa ma túy đá, H cất giấu trong túi áo khoác cùng gói ma túy đá còn lại của ngày hôm trước, mục đích để sử dụng . Đến khoảng 15 giờ 30 cùng ngày, H điều khiển xe đến ngã tư đường L - P, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng thì bị lực lượng Công an quận Hải Châu phát hiện, bắt quả tang thu giữ trong túi phía trong bên phải áo khoác có 02 túi nilong chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy, được niêm phong ký hiệu A.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của H tại K236/45B T, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng không thu giữ gì.

• Vật chứng thu giữ của Dương Đình H:

+ 01 gói nilong kích thước 3,5 x 03cm và 01 gói nilong kích thước 02 x 1,5cm; bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng, niêm phong ký hiệu A.

+ 01 xe mô tô hiệu Honda Lead màu đỏ, BKS: 43D1- 214.64

+ 01 điện thoại di động có chữ Mastel màu xanh, gắn sim số 1: 0905.401.367; sim số 2: 0902.927.152.

Theo Kết luận giám định số 343/GĐ-MT ngày 27.11.2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Đà Nẵng kết luận:

Tinh thể màu trắng trong mẫu niêm phong ký hiệu A gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng tinh thể mẫu A: 0,141 gam.

Tại Bản cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 09/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Dương Đình H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị tuyên bố bị cáo Dương Đình H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Dương Đình H từ 15 đến 18 tháng tù.

Về xử lý tang vật: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:

Tịch thu tiêu hủy 0,112 gam tinh thể mẫu A và toàn bộ vỏ bao gói hoàn lại sau giám định.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động có chữ Mastel màu xanh, gắn sim số 1: 0905.401.367; sim số 2: 0902.927.152.

Tại phiên tòa, quá trình xét hỏi bị cáo Dương Đình H thừa nhận hành vi phạm tội như trong bản cáo trạng đã truy tố các bị cáo.

Bà Huỳnh Thị Lệ T2 trình bày: Chiếc xe mô tô hiệu Honda Lead màu đỏ, biển kiểm soát 43D1- 214.64 chủ sở hữu là Công ty TNHH MTV T1, H là nhân viên bán thời gian của Công ty, H sử dụng chiếc xe này để đi giao hàng cho Công ty. Khi H sử dụng xe này để đi mua ma túy và tàng trữ ma túy thì bà hoàn toàn không biết gì. Hiện nay, Công ty đã nhận lại chiếc xe này. Bà không có yêu cầu gì.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo Dương Đình H tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có cơ sở để xác định: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 24.11.2020, tại ngã tư đường L - P, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, Dương Đình H bị bắt quả tang đang tàng trữ trái phép 0,141 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của Dương Đình H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Dương Đình H là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

Xét hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo thì thấy:

Do muốn có ma túy sử dụng nên tối ngày 23.11.2020, Dương Đình H đã mua 01 gói ma túy đá H sử dụng một ít, còn lại một ít cất vào túi áo, đến sáng ngày 24.11.2020, H tìm mua ma túy chất lượng nên nhờ M2 giới thiệu, H tiếp tục mua 01 gói ma túy đá, H cất giấu trong túi áo khoác cùng với túi ma túy trước. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang, bức xúc trong nhân dân. HĐXX xét thấy cần phải xét xử một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo và cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân của bị cáo thì thấy:

Bị cáo H có nhân thân xấu, năm 2015 và 2017 bị Tòa án nhân dân quận T, thành phố Đà Nẵng xử phạt hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. HĐXX sẽ xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo khi lượng hình.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu đỏ, biển kiểm soát 43D1-214.64 của Công ty TNHH T1 đứng tên sở hữu. H là nhân viên bán thời gian của Công ty, được bà Huỳnh Thị Lệ T2 là người đại diện theo pháp luật của Công ty giao xe để đi giao hàng. Bà T2 không biết H sử dụng xe để đi mua ma túy và cất giấu để sử dụng nên không đề cập xử lý. Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe này cho Công ty TNHH T1 là có căn cứ.

Đối với người tên M1, một thanh niên đã bán ma túy cho H và người bạn tên M2 giới thiệu chỗ H mua ma túy đến nay chưa xác định được lai lịch. Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau.

Về Xử lý tang vật: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX xử lý như sau:

Đối với 0,112 gam tinh thể ma túy mẫu A và toàn bộ vỏ bao gói, hoàn trả sau giám định là vật cấm lưu hành, do đó tuyên tịch thu và tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động có chữ Mastel màu xanh, gắn sim số 1: 0905.401.367; sim số 2: 0902.927.152 của Dương Đình H, H sử dụng điện thoại này liên lạc mua ma túy để tàng trữ sử dụng nên HĐXX tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Những vật chứng trên, hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/3/2021.

Xét những đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tại phiên tòa hôm nay là có cơ sở, HĐXX chấp nhận.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Dương Đình H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Xử phạt: Dương Đình H 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 24/11/2020.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:

Tịch thu tiêu hủy 0,112 gam tinh thể mẫu A và toàn bộ vỏ bao gói, hoàn trả sau giám định.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động có chữ Mastel màu xanh, gắn sim số 1: 0905.401.367; sim số 2: 0902.927.152.

Những vật chứng trên Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/3/2021.

4. Về án phí: Bị cáo Dương Đình H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về thời hạn kháng cáo: Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ