vanban.org

Bản án 38/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 25/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điểm b, i và tiết đầu điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 36; Điều 91 và Điều 100 BLHS: T bố bị cáo Hoàng Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Xuân T 15(Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Nam Đ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã Nam Đ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh nhận được quyết định thi hành án và bả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Án Hoàng Xuân Tuyên - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điểm b, i và tiết đầu điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 36; Điều 91 và Điều 100 BLHS: T bố bị cáo Hoàng Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 100 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2021/HS-ST
Ngày: 25/8/2021

NHÂN DA

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ -TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Hoàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Tá Lợi, nghề nghiệp: Cán bộ phòng GD-ĐT huyện Thạch Hà.

Ông Nguyễn Văn Hữu, nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê DA Dũng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Việt, Kiểm sát viên.

Hôm nay, vào hồi 14 giờ 15 phút ngày 25 tháng 8 năm 2021, tại Trụ sở- Toà án nhân dân huyện Thạch Hà mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2021/TLST-HS, ngày 27 tháng 7 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2021/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo: Họ và tên Hoàng Xuân T, sinh ngày 24/7/2004; Giới tính: Nam. (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo mới 16 tuổi 10 tháng 04 ngày); Tại xã Nam Đ, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Thôn Lộc H, xã Nam Đ, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không;

Quốc tịch: Việt Nam. Trình độ học vấn: 11/12;

Nghề nghiệp: Không.

Con ông Hoàng Xuân H, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971. A, chị em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ tư trong gia đình. Vợ, con: Chưa có. *Tiền án, tiền sự: Không. *Nhân thân: Ngày 03/8/2020, bị Công an huyện Thạch Hà xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Trộm cắp tài sản”. *Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. (Có mặt tại phiên tòa) *Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Hoàng Xuân T: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1971 (Mẹ đẻ của bị cáo) (Có mặt) Nơi cư trú: Thôn Lộc H, xã Nam Đ, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. *Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Xuân T có ông Nguyễn Xuân Hiển –Luật sư Công ty Luật KTD Chi nhánh miền trung thuộc đoàn Luật sư thành phố Hà Nội - Bào chữa theo yêu cầu của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt). *Người bị hại: A Võ Thành Đ, sinh năm 1997; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi cư trú: Thôn Phúc Đ, xã Nam Đ, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. (A Đ có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt) *Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: A Nguyễn Hữu V, sinh năm 1987; Nghề nghiệp Kinh doA; Nơi cư trú: Số nhà 195, đường Nguyễn B, P. Nam H, Tp. H, Hà Tĩnh. (A V có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt). *Người làm chứng: A Hoàng Thế A, sinh năm 2003; (Có mặt) Nơi cư trú: Thôn Lộc H, xã Nam Đ, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. *Đại diện UBND xã Nam Đ, huyện Thạch Hà: Ông Hoàng Qúy ThA, Chức vụ: Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do trước đó biết A Võ Thành Đ có chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus và A Đ hay ngủ tại nhà của A trai mình là A Võ Văn ThA tại Thôn Phúc Đ, xã Nam Đ, huyện H; nên khoảng 23 giờ ngày 27/5/2021, sau khi đi chơi cùng bạn về, Hoàng Xuân T đi đến nhà A ThA nhằm mục đích trộm cắp tài sản.

Khi đi đến nhà A ThA, Hoàng Xuân T đi lại cửa sổ phòng ngủ, thấy cửa sổ đang mở nên T đẩy nhẹ cửa và nhìn vào bên trong thì thấy A Võ Thành Đ đang nằm ngủ trên giường và nằm đè lên điện thoại di động Iphone 7 Plus nên T không lấy trộm được. T đứng chờ đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 28/5/2021, do A Đ vẫn nằm đè lên điện thoại nên T đã lấy đá ném nhiều lần lên mái nhà nhằm đánh thức A Đ. T ném đến lần thứ 03 thì A Đ tỉnh dậy bật đèn điện đi ra khỏi phòng ngủ để kiểm tra. Lúc này, T đi lại cửa sổ thò tay vào và lấy điện thoại di động Iphone 7 Plus để trên giường rồi rút sạc pin ra và cầm lấy điện thoại rồi đi về nhà mình. A Đ, sau khi kiểm tra thấy không có việc gì xảy ra thì đi vào phòng ngủ nhưng không thấy điện thoại Iphone 7 Plus đâu nữa, A Đ lấy điện thoại Nokia gọi vào nhưng T không nghe máy. Vì trước đó biết mật khẩu điện thoại nên T đã mở khoá màn hình, xoá hết dữ liệu trong điện thoại, đăng xuất khỏi Icloud và tắt nguồn điện thoại đi về nhà ngủ.

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 28/5/2021, T lấy điện thoại Iphone 7 Plus trộm cắp được của A Đ đi sang nhà Hoàng Thế A, nhờ A chở xuống thành phố Hà Tĩnh nhưng không nói rõ là đi để làm gì. Hoàng Thế A đồng ý và điều khiển xe mô tô chở T đi đến ngã ba giao nhau giữa đường tỉnh lộ 17 với đường Quốc lộ 1A ở thành phố Hà Tĩnh. Đến đây, A điều khiển xe mô tô đi về nhà còn T đi bộ đến quán cầm đồ HV195, ở số nhà 195 đường Nguyễn B, phường N, thành phố Hà Tĩnh gặp A Nguyễn Hữu V (là chủ hiệu cầm đồ). Tại đây, T thỏa thuận và bán chiếc điện thoại này cho A V với giá 3.000.000 đồng. Khoảng 21 giờ cùng ngày, T bắt xe taxi đi về nhà trên đường về thì gặp A Đ, A Đ hỏi có lấy điện thoại không thì T thừa nhận đã lấy điện thoại Iphone 7 Plus của A Đ và đã đưa đi bán. Sau đó, A Đ đưa T đến Công an xã Nam Đ để làm việc.

Ngày 31/5/2021, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Hà ban hành yêu cầu định giá số 24/YCĐT đến Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thạch Hà để tiến hành định giá tài sản là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus nói trên.

Tại bản kết luận định giá số 19/KLĐG, ngày 01/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Thạch Hà kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plus tại thời điểm định giá có trị giá 2.700.000 đồng.

Vật chứng thu giữ gồm: 01chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, số IMEI 355838084916147, đã qua sử dụng (thu giữ tại hiệu cầm đồ của A Nguyễn Hữu V). Đến ngày 22/6/2021, xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Hà trả lại chiếc điện thoại di động nói trên cho chủ sở hữu là A Võ Thành Đ.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị mất là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen từ cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Hà, A Võ Thành Đ đã có đơn từ chối bồi thường dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Hoàng Xuân T.

Bản cáo trạng số 40/CT-VKS-TH, ngày 27/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà đã truy tố bị cáo Hoàng Xuân T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố, đồng thời phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm b, i và tiết đầu điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 90; Điều 91 và Điều 100 BLHS xử phạt bị cáo Hoàng Xuân T mức án từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã Nam Đ, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Bị cáo là người dưới 18 tuổi nên đề nghị HĐXX không khấu trừ thu nhập. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại A Đ và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan A V không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên miễn xét. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Luật sư Nguyễn Xuân Hiển phát biểu bài bào chữa cho bị cáo với nội dung: Luật sư hoàn toàn đồng tình với quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của Kiểm sát viên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã cùng với gia đình bồi thường đầy đủ khắc phục hậu quả thiệt hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo phạm tội khi đang ở độ tuổi vị thành niên. Đề nghị HĐXX xem xét áp dụng điểm b, i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36, Điều 91 và Điều 100 BLHS xử phạt bị cáo cải tạo không giam giữ ở mức thấp nhất có thể.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát về mức án đối với bị cáo và nội dung bài bào chữa của Luật sư cho bị cáo là tương đối phù hợp nên được chấp nhận.

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Xuân T không có ý kiến gì trA luận với quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên và thừa nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát là đúng.

Tại phiên tòa người đại diện theo pháp luật của bị cáo Hoàng Xuân T, bà Nguyễn Thị H trình bày bà không có ý kiến gì trA luận với quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của Kiểm sát viên, chỉ xin HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Phát biểu tại phiên tòa ông Hoàng Qúy ThA đại diện Uỷ ban nhân dân xã Nam Đ, huyện Thạch Hà trình bày: Ở địa phương gia đình bị cáo luôn chấp hành tốt các chủ trương đường lối của đảng, chính sách pháp luật của nhà nước cũng như các quy định của địa phương. Bản thân bị cáo phạm tội là do bồng bột, nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế. Đề nghị HĐXX xem xét tạo điều kiện cho bị cáo một cơ hội để sửa chữa sai lầm, chính quyền địa phương cam kết sẽ cùng với gia đình quản lý, giám sát, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo Hoàng Xuân T nói lời nói sau cùng: Kính thưa HĐXX bị cáo đã nhận thức được sai phạm của mình xin HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thạch Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, Luật sư không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay bị cáo khai nhận, vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 28/5/2021, bị cáo đã đến nhà A Võ Thành Đ và lấy trộm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus. Trị giá tài sản chiếm đoạt là 2.700.000 đồng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và phù hợp biên bản tạm giữ đồ vật, biên bản khám nghiệm hiện trường và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Bị cáo Hoàng Xuân T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Như vậy, đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Khẳng định quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

. Xem xét tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy rằng hành vi của bị cáo Hoàng Xuân T là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, đáng lẽ ra phải không ngừng học tập tu dưỡng, rèn luyện bản thân, tuân thủ pháp luật, nhưng do nhận thức kém, không kiềm chế được lòng tham, muốn có tiền tiêu xài cá nhân, vì thế đã dấn thân vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo không những làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, mà còn gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân, do vậy hình vi phạm tội của bị cáo cần phải xử phạt thật nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy rằng tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thật sự ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, đã cùng với gia đình tự nguyện bồi thường đầy đủ khắc phục hậu quả thiệt hại, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhất thời phạm tội. Trong quá trình điều tra người bị hại có đơn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, chiếu cố, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hơn nữa, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện một phần là do nhận thức pháp luật còn hạn chế, bởi tính đến thời điểm mà bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo mới chỉ 16 tuổi 10 tháng 04 ngày, bản thân bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng. Vì vậy, xét thấy chưa cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng đủ nghiêm. Bị cáo Hoàng Xuân T là người dưới 18 tuổi nên không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

.Về xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã bồi thường đầy đủ khắc phục hậu quả thiệt hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, thời điểm phạm tội bị cáo là người dưới 18 tuổi. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

.Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người dưới 18 tuổi nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

.Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản là chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus, người bị hại A Võ Thành Đ không có yêu cầu gì thêm. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan A Nguyễn Hữu V, đã được gia đình và bị cáo trả lại số tiền 3.000.000đ, nay A V cũng không yêu cầu bị cáo phải thường gì thêm, vì thế Hội đồng xét xử miễn xét.

.Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Liên quan trong vụ án này có A Nguyễn Hữu V là chủ cửa hiệu cầm đồ HV 95 tại số 195, đường Nguyễn B, phường N, thành phố Hà Tĩnh là người đã mua chiếc điện thoại di động do bị cáo Hoàng Xuân T đem bán. Tuy nhiên, khi mua tài sản A V không biết đây là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có vì vậy cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Hà không có đủ căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với A V.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điểm b, i và tiết đầu điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; Điều 36; Điều 91 và Điều 100 BLHS: T bố bị cáo Hoàng Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Hoàng Xuân T 15(Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Nam Đ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã Nam Đ, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Điều 99 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

[2]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử buộc bị cáo Hoàng Xuân T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[3]. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, Người đại diện theo pháp luật của bị cáo, Người bào chữa có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày T án.

Đối với bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ