- Tranh chấp gì? án hình sự — "Pham Văn V - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Nguyễn Minh H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự Xử phạt; Điều 38 Bộ luật hình sự Xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/ 2021/HS-ST Ngày: 06/7/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông: Lê Thành Liêm
Các hội thẩm nhân dân: Ông H Văn Lợi
Ông Võ Đức Thọ
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kỷ
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh tham gia phiên tòa: Ông: Nguyễn Võ Tới- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2021/TLST-HS ngày 28/5/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2021/QĐXXST-HS ngày 22/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện LộcNinh đối với các bị cáo:
1. Phạm Văn V, sinh ngày 20/10/1990, tại TP Hồ Chí Minh; Tên gọi khác: Bé; HKTT: Ấp 6, xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Ấp 1, xã Lộc Hưng, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 09 /12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn Hùng ( Chết) và bà Nguyễn Thị Sen, sinh năm 1965; Vợ Phan Thị Trúc Linh, sinh năm 1993. Bị con có 01 người con, sinh năm 2014.
Tiền sự: Không; Tiền án: Không.
Nhân thân: Ngày 19/4/2011, bị Tòa án nhân dân nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phúc thẩm tuyên phạt 03 năm 06 tháng tù về tội trộm c p tài sản.
Bị b t từ ngày 04/3/2021 cho đến nay.
2. Nguyễn Minh H, sinh ngày 02/9/1997, tại Bình Phước; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Ấp 7, xã Lộc Thái, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Lượm; sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Thành, sinh năm 1974; Bị cáo chưa có vợ.
Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Bị b t từ ngày 04/3/2021 đến nay. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Trần Nguyễn Quốc V, sinh năm 1976 (v ng mặt)
Địa chỉ: Ấp 7, xã Lộc Thái, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị V, sinh năm 1970 (v ng mặt)
Địa chỉ: Ấp 7, xã Lộc Thái, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:
Vào khoảng 01 giờ ngày 01/03/2021, Phạm Văn V đi bộ từ nhà ở ấp 1, xã Lộc Hưng đến nhà anh Trần Nguyễn Quốc V thuộc ấp 7, xã Lộc Thái, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước rồi tr o qua hàng rào đi đến bên hông nhà lấy trộm 01 máy khoan cầm tay màu xanh đen hiệu BOSCH; 01 máy khoan cầm tay màu xám hiệu CROWIN; 01 máy c t cầm tay màu xanh hiệu Makita, 01 máy hàn điện màu cam hiệu WELDCOM kích thước (37x15,5x23)cm, 01 sợi dây điện dài 2,95m một đầu có g n kẹp kim loại; 01 sợi dây điện dài 9,8m, một đầu có g n mỏ hàn màu đỏ đang để cạnh một nhà kho đang xây. Sau đó, V tr o tường rào ra ngoài và mang tất cả tài sản trộm được đi bộ về hướng nghĩa trang thuộc ấp 7, xã Lộc Thái. Khi đến nghĩa trang, V nhặt 01 bao tải nhỏ màu vàng và bỏ tất cả tài sản trộm được vào bao tải và n m ngủ tại nghĩa trang. Đến khoảng hơn 05 giờ sáng cùng ngày, V mang toàn bộ tài sản trộm c p được đến nhà Nguyễn Minh H thuộc ấp 7, xã Lộc Thái, huyện Lộc Ninh cất giấu trong phòng ngủ của H, rồi đi ra võng phía trước nhà n m ngủ. Khoảng 07 giờ sáng, H thức dậy thấy cái bao tải màu vàng bên trong có 01 máy hàn điện, 02 máy khoan cầm tay, 01 máy c t s t và 02 sợi dây điện. Sau khi xem xong Hoàng đi ra phía trước nhà thấy V đang n m võng ngủ, H đi lại gần hỏi V: “mấy cái tài sản trong bao tải là của ai”, V trả lời “mới lấy trộm được”, H hỏi “lấy trộm ở đâu” thì V trả lời “lấy trộm ở ngoài cổng chùa Giác Ngạn, kế bên tiệm tạp hóa. V kêu H tìm nơi tiêu thụ số tài sản trên, H đồng ý và d n V đến nhà chị Lê Thị V, sinh năm: 1970, ngụ tại: Ấp 7, xã Lộc Thái, huyện Lộc Ninh. Bà V đồng ý mua các tài sản trên với giá 1.000.000 đồng.
Sau khi, phát hiện tài sản bị mất trộm anh Trần Nguyễn Quốc V đến Cơ quan Công an trình báo.
Qua truy xét, cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Ninh xác định Phạm Văn V đã thực hiện vụ trộm c p tài sản tại nhà của anh Vinh sau đó nhờ Nguyễn Minh H tìm người để bán tài sản do V trộm c p.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Ninh V và H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố.
Cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 28 tháng 5 năm 2021 của Viên Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh truy tố bị cáo Phạm Văn V về tội “Trộm c p tài sản” bị cáo Nguyễn Minh H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” .
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử;
Áp dụng khoản 1 điều 173 điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17,38,58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn V từ 12 đến 15 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 điều 323 điểm s khoản 1,2 Điều 38, 17, 58 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H từ 09 đến 12 tháng tù.
Các bị cáo không tranh luận, không kêu oan.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo và những người tham gia tố tụng.
Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại về thời gian và địa điểm xảy ra vụ án và toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, có đầy đủ cơ sở khách quan xác định vào khoảng 01 giờ ngày 01/3/2021, Phạm Văn V đã lén lút đột nhập vào nhà anh Vinh lấy trộm 01 máy khoan cầm tay màu xanh đen hiệu BOSCH; 01 máy khoan cầm tay màu xám hiệu CROWIN; 01 máy c t cầm tay màu xanh hiệu Makita, 01 máy hàn điện của anh Vinh tại ấp 7, xã Lộc Thái, huyện Lộc Ninh, sau đó đem cất giấu trong nghĩa địa, đến 05 giờ sáng cùng ngày, V đem các tài sản trộm được về nhà của H và ra võng phía trước nhà H n m nghỉ. Đến khi H thức dậy thấy số tài sản như trên trong nhà H nên có hỏi V đã nói cho H biết nguồn gốc là do V trộm c p mà có đồng thời V cùng với H đem số tài sản trên bán cho chị Lê Thị V giá 1.000.000đ.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số: 16/KL-HĐĐGTSTTHS ngày 04/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lộc Ninh, kết luận: 01 máy hàn điện màu cam hiệu WELDCOM kích thước (37x15,5x23) cm; 01 máy khoan cầm tay màu xanh đen hiệu BOSCH; 01 máy khoan cầm tay màu xám hiệu CROWIN; 01 máy c t cầm tay màu xanh hiệu Makita; 01 sợi dây điện dài 2,95m một đầu có g n kẹp kim loại; 01 sợi dây điện dài 9,8m, một đầu có g n mỏ hàn màu đỏ. Có tổng trị giá là 6.382.500 đồng.
Trên cơ sở đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh truy tố bị cáo Phạm Văn V về tội trộm c p tài sản, Nguyễn Minh H phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là đúng người, đúng tội.
Đối với Lê Thị V khi H và V đem bán tài sản cho chị V nói dối là tài sản của nhà nên không biết nguồn gốc do V trộm nên không có căn cứ xử lý trách nhiện hình sự.
Hành vi lợi dụng ban đêm, nhà của bị hại đã ngủ bị cáo đã lén lút vào bên trong trộm tài sản, động cơ và mục đích phạm tội của bị cáo nh m bán lấy tiền tiêu xài.
Đối với H biết rõ tài sản do trộm c p mà có nhưng v n giúp V đem bán, được V cho số tiền 100.000đ và mua 400.000đ ma túy sử dụng chung với V.
Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đều là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xem thường pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do đó, cần có một hình phạt tương xứng với hành vi của các bị cáo nh m răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
.Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo V, sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn đã được thu hồi trả cho bị hại, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo H phạm tội lần đầu thuộc trượng hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội thành khẩn khai báo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân không tốt, sử dụng ma túy, mục đích và động cơ phạm tội nh m bán lấy tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài, bản thân các bị cáo đều có sức khỏe, còn trong độ tuổi lao động nhưng không chịu tìm công việc thích hợp để tạo ra thu nhập chính đáng mà lại đi trộm tài sản của người khác, bị cáo V vào năm 2011 đã bị TAND TP Hồ Chí Minh xử phạt 3 năm 6 tháng tù về tội trộm c p tài sản. Bị cáo đã chấp hành án xong thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích, lần phạm tội này không phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm nhưng cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo như trong bản luận tội là phù hợp được hội đồng xét xử chấp nhận.
Về vật chứng vụ án:
Toàn bộ các tài sản trộm c p đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Ninh thu hồi trả cho bị hại.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác. Đối với số tiền 1.000.000đ chị V đã mua các tài sản của V trộm c p, chị V không yêu cầu các bị cáo trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Nguyễn Minh H phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".
2.Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h,s khoản 1 Điều 51, 38 của Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo Phạm Văn V 01 (Một) năm tù. Thời gian tính tù từ ngày 04/03/2021.
Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm i,s khoản 1, Điều 51, 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Nguyễn Minh H 09 (chín) tháng tù. Thời gian tính tù từ ngày 04/3/2021.
Tiếp tục tạm giam các bị cáo trong thời hạn 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.
3.Về án phí:
Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo Phạm Văn V, Nguyễn Minh H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan v ng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND tỉnh Bình Phước -VKSND huyện Lộc Ninh - Bị cáo; - Bộ phận HSNV CA Lộc Ninh; - Phòng HSNC CA tỉnh Bình Phước; - Chi cục THADS huyện Lôc Ninh; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thành Liêm |