vanban.org

Bản án 38/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị B được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.

Về con chung: Tên Nguyễn Tấn Tài, sinh năm: 1985 và Nguyễn Thị Tú, sinh năm: 1998 đều đã trưởng thành có khả năng lao động, không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung: Bà B xác định không yêu cầu nên không xem xét. Nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị B được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2021/HNGĐ-ST
Ngày 28-5-2021
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Việt Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tấn Tài;

Ông Trịnh Hữu Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Như Ý, Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Không thuộc trường hợp tham gia.

Ngày 28 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2021/TLST -HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lý Thị B, sinh năm: 1966 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp 1, xã K, huyện U, tỉnh C ..

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm: 1964 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 1, xã K, huyện U, tỉnh C ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 22 tháng 9 năm 2020, các lời trình bày trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Lý Thị B trình bày:

Bà với ông D tự nguyện chung sống với nhau đã hơn 30 năm, giấy đăng ký kết hôn bị mất nên năm 2020 đăng ký kết hôn lại tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Hội, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Vợ chồng chung sống có 02 con chung. Trong thời gian chung sống với nhau khi ông D uống rượu về nhà thì đánh bà, Sự việc xảy ra rất nhiều lần, gần đây là vào tháng 3 và đầu tháng 5/2021. Sự việc đã được đưa ra chính quyền giải quyết, ông D có hứa sửa chữa nhưng vẫn không thay đổi. Bà nhận thấy không thể tiếp tục sống chung với ông D được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông D.

Về con chung vợ chồng có 2 con chung tên Nguyễn Tấn Tài, sinh năm: 1985 và Nguyễn Thị Tú, sinh năm: 1998 đều đã trưởng thành và có khả năng lao động, bà không yêu cầu xem xét.

Về tài sản chung: Không yêu cầu. Nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

- Bị đơn ông Nguyễn Văn D vắng mặt tại phiên tòa, không có văn bản có ý kiến đối với yêu cầu của bà B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa bà Lý Thị B và ông Nguyễn Văn D được xác định là tranh chấp hôn nhân gia đình về việc ly hôn và thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Nguyễn Văn D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông D.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị B và ông Nguyễn Văn D tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định nên quan hệ hôn nhân của bà Lý Thị B và ông Nguyễn Văn D là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống giữa vợ chồng bà Lý Thị B và ông Nguyễn Văn D xảy ra mâu thuẫn, ông D có hành vi đánh bà B. Bà B xác định vợ chồng đã không còn chung sống cùng nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn với ông D. Ông D vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà B. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà B với ông D đã mâu thuẫn trầm trọng, có hành vi bạo lực gia đình, tình cảm vợ chồng không còn nên mục đích hôn nhân không đạt, vì vậy, bà B yêu cầu ly hôn với ông D là có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Tên Nguyễn Tấn Tài, sinh năm: 1985 và Nguyễn Thị Tú, sinh năm: 1998 đều đã trưởng thành có khả năng lao động, không yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung: Bà B xác định không yêu cầu nên không xem xét.

Nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.

Án phí dân sự sơ thẩm bà Lý Thị B phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng các Điều 51, 56, của Luật Hôn nhân và Gia đình; Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lý Thị B được ly hôn với ông Nguyễn Văn D.

- Về con chung: Tên Nguyễn Tấn Tài, sinh năm: 1985 và Nguyễn Thị Tú, sinh năm: 1998 đều đã trưởng thành có khả năng lao động, không yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung: Bà B xác định không yêu cầu nên không xem xét. Nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.

- Án phí dân sự sơ thẩm bà Lý Thị B phải chịu 300.000 đồng. Bà Lý Thị B đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0006141 ngày 11/01/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh, tỉnh Cà Mau được chuyển thu án phí.

- Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ