vanban.org

Bản án 38/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ph, xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ph được ly hôn anh Vũ Văn C. Về con chung: Giao con Vũ Nguyễn Khánh D, sinh ngày 29/6/20xx và Vũ Nguyễn Khánh L, sinh ngày 9/12/20xx cho chị Nguyễn Thị Ph trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính từ ngày 17 tháng 8 năm 2021 đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn P-C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ph, xử:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN LÃNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 38/2021/HNGĐ-ST
Ngày 17-8-2021
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Huyền Trang;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Nhòng,

Ông Nguyễn Hữu Bình.

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Kim Liên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Đào D Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 119/2021/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2021 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 7 năm 2021 (Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2021/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2021), giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ph, sinh năm 19xx; nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện T, thành phố Hải Phòng, có mặt;

- Bị đơn: Anh Vũ Văn C, sinh năm 19xx; nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn (chị Nguyễn Thị Ph) trình bày: Chị và anh Vũ Văn C tự nguyện kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, thành phố Hải Phòng vào ngày 23 tháng 11 năm 2009. Anh chị chung sống với nhau hòa thuận được 09 năm đầu thì mâu thuẫn phát sinh do tính tình không hợp,vợ chồng bất đồng quan điểm sống; một phần do anh C không quan tâm đến gia đình, vợ con nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Hai bên gia đình đã hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Năm 20xx, do mâu thuẫn căng thẳng, chị Ph đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Từ đó đến nay, anh chị đã sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ, chị Ph yêu cầu ly hôn anh C. Anh chị có hai con chung là Vũ Nguyễn Khánh D, sinh ngày 29/6/20xx và Vũ Nguyễn Khánh L, sinh ngày 09/12/20xx. Khi ly hôn, chị Ph đề nghị Tòa án giao cả 02 con cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; việc cấp dưỡng cho con chị xin tự thỏa thuận với anh C. Anh chị không có tài sản và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh C nhiều lần, yêu cầu anh C giao nộp bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết vụ án nhưng anh C không thực hiện.

Tài liệu xác minh tại địa Ph thể hiện: Mâu thuẫn vợ chồng chị Ph, anh C là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng nghi ngờ, không tin tưởng nhau nên thường hay xô xát, cãi nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc. Tình trạng vợ chồng anh chị trầm trọng từ năm 20xx. Từ đó đến nay anh chị sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau. Anh chị có hai con chung như chị Ph trình bày. Từ khi anh chị sống ly thân đến nay con chung của anh chị do chị Ph nuôi dưỡng, chăm sóc tốt. Để ổn định tâm lý, sinh hoạt của cháu D, cháu L, Tòa án nên giao cả hai con cho chị Ph trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn (chị Ph) vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn (anh C) vắng mặt tại phiên tòa, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Thẩm phán đã thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, thông báo về phiên họp, hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định về thẩm quyền, thời hạn, trình tự, thủ tục tố tụng; phiên toà được mở đúng thời hạn, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không có mặt tại phiên họp, hòa giải và tại phiên tòa là chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của bị đơn quy định tại các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/20xx/UBTVQH14 ngày 30/12/20xx của Ủy ban thường vụ Quốc hội, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ph, xử cho chị Nguyễn Thị Ph được ly hôn anh Vũ Văn C; giao con Vũ Nguyễn Khánh D và Vũ Nguyễn Khánh L cho chị Ph trực tiếp nuôi dưỡng; việc cấp dưỡng cho con, chị Ph xin tự thỏa thuận với anh C; anh chị không có tài sản và nợ chung nên không đặt ra để giải quyết; chị Ph phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

. Đây là tranh chấp hôn nhân gia đình (ly hôn, tranh chấp nuôi con); bị đơn (anh Vũ Văn C) có đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở tại thôn C, xã V, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn (anh C) đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không chấp hành triệu tập của Tòa án. Tòa án đã thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ văn bản tố tụng; sao gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo theo quy định của pháp luật, tạo điều kiện cho anh C thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Việc anh C không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án là tự từ bỏ các quyền và không chấp hành nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do đương sự giao nộp và Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

. Bị đơn (anh C) vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt anh C.

- Về nội dung:

. Về quan hệ hôn nhân: Lời khai của nguyên đơn phù hợp với tài liệu xác minh tại địa Ph, thể hiện: Quan hệ hôn nhân giữa chị Ph, anh C được xác lập do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V vào ngày 23/12/2009, là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn phát sinh do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng nghi ngờ nhau có quan hệ bất chính với người khác nên thường hay xô xát, cãi nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Năm 20xx, tình trạng vợ chồng chị Ph, anh C trở nên trầm trọng; anh chị đã sống ly thân, không còn quan tâm nhau cho đến nay. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng chị Ph, anh C đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; yêu cầu ly hôn của chị Ph là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận, xử cho chị Ph được ly hôn anh C.

. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Vũ Nguyễn Khánh D, sinh ngày 29/6/20xx và Vũ Nguyễn Khánh L, sinh ngày 09/12/20xx. Từ khi anh chị sống ly thân đến nay, con chung của anh chị do chị Ph nuôi dưỡng, chăm sóc tốt. Khi ly hôn chị Ph đề nghị Tòa án giao cả hai con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, chị Ph làm công nhân, có thu nhập và nơi ở ổn định, đảm bảo việc nuôi dưỡng, chăm sóc các con; ngoài việc tự mình chăm sóc các con, chị Ph còn được sự hỗ trợ của mẹ đẻ trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng các cháu; anh C làm nghề lao động tự do, thường xuyên không ở nhà. Quá trình giải quyết vụ án cháu D có nguyện vọng được ở cùng với mẹ. Như vậy có thể thấy điều kiện trực tiếp nuôi con hiện nay của chị Ph tốt hơn của anh C. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Ph, xử giao con Vũ Nguyễn Khánh D và Vũ Nguyễn Khánh L cho chị Ph trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế và nguyện vọng của con. Về việc cấp dưỡng cho con, vì chị Ph xin tự thỏa thuận với anh C, không yêu cầu Tòa án giải quyết, tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, xét thấy quyền lợi của con vẫn được đảm bảo nên để anh chị tự giải quyết với nhau là phù hợp.

. Về tài sản và nợ chung: Anh chị không có tài sản và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ph phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 96, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/20xx/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 20xx của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ph, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ph được ly hôn anh Vũ Văn C.

2. Về con chung: Giao con Vũ Nguyễn Khánh D, sinh ngày 29/6/20xx và Vũ Nguyễn Khánh L, sinh ngày 9/12/20xx cho chị Nguyễn Thị Ph trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính từ ngày 17 tháng 8 năm 2021 đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3.Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ph phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Ph đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0012167 ngày 21 tháng 5 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng. Như vậy, chị Ph đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ