- Tranh chấp gì? án hành chính — "QUYẾT ĐỊNH BỒI THƯỜNG"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị M.
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 13 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số…; Điều 158 Luật Tố tụng hành chính
| tßa ¸n nh©n d©n tØnh kiªn giang | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2021/HC-ST Ngày:15 - 7 -2021 V/v Khiếu kiện quyết định bồi thường, hỗ trợ sau khi thu hồi đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Thái Ngọc Minh
2. Bà Đào Thị Kim Loan
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lương Quag Hùng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 59/2019/HC-ST ngày 09 tháng 4 năm 2019 về “Khiếu kiện quyết định bồi thường, hỗ trơ sau khi thu hồi đất”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2021/QĐXXST-HC ngày 01 tháng 7 năm 2021, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Bà Đỗ Thị M, sinh năm 1968.
Địa chỉ: số A, đường B, phường C, thành phố D, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Nguyễn Chí N, sinh năm 1986 (vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ: khu phố 1, phường C, thành phố D, tỉnh Kiên Giang.
Người bị kiện:
1. Ủy ban nhân dân thành phố D, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Thanh V, chức vụ: Chủ tịch UBND thành phố D, tỉnh Kiên Giang.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố D, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Nguyễn Văn H, chức vụ: Phó Chủ tịch UBND thành phố D, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
Cùng địa chỉ: số 38, đường Lê Lợi, phường C, thành phố D,tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ kiện, người khởi kiện bà Đỗ Thị M và người đại diện ông Nguyễn Chí N trình bày:
Bà M có diện tích 741,01 m2 đất nông nghiệp thuộc thửa số 8, tờ bản đồ số 96, tọa lạc tại khu phố 6, phường C, thành phố D, tỉnh Kiên Giang.
Ngày 15/12/2017 Ủy ban nhân dân thành phố D ra Quyết định số 703/QĐ-UBND thu hồi diện tích đất nêu trên của bà M để thực hiện công trình xây dựng đường và dãy nhà ở dọc theo đường 3/2 tạ phường C, thành phố D. Tại Quyết định này Ủy ban nhân dân thành phố D xác định đất của bà M có 490,93m2 là đất nông nghiệp trồng cây lâu năm và 250,08m2 là đất Nhà nước quản lý.
Ngày 18/12/2017 Ủy ban nhân dân thành phố D ra Quyết định số 637/QĐ-UBND bồi thường hỗ trợ cho bà M đối với diện tích đất 429,12m2 với tổng số tiền 1.048.046.300 đồng. Còn lại diện tích đất 250,08m2 Ủy ban nhân dân thành phố D không bồi thường.
Bà M làm đơn khiếu nại, Ủy ban nhân dân thành phố D đã ra Thông báo thụ lý, giải quyết khiếu nại lần đầu vào ngày 26/01/2018 nhưng sau đó Chủ tịch UBND thành phố D không giải quyết khiếu nại đối với đơn của bà M.
Ngày 22/02/2019 bà M làm đơn khởi kiện Ủy ban nhân dân thành phố D. Bà M xác định diện tích đất 250,08m2 có nguồn gốc nằm trong tổng diện tích đất do cha bà M khai phá từ trước năm 1975. Gia đình bà M sử dụng trồng cây lâu năm và hoa màu liên tục từ lúc đó đến nay, không có quyết định quản lý của Nhà nước, nay UBND thành phố D thu hồi đất của bà M để phục vụ cho mục đích công cộng nhưng không bồi thường là không đúng.
Bà M yêu cầu Tòa án giải quyết:
Hủy một phần Quyết định thu hồi đất số 703/QĐ-UBND ngày 15/12/2017 của Ủy Ban Nhân Dân thành phố D đối với diện tích đất 250,08m2 do Nhà nước quản lý.
Ban hành Quyết định thu hồi đất đối với diện tích đất 250,08m2.
Ban hành Quyế định bồi thường theo đúng qui định của pháp luật đối với diện tích đất 250,08m2 cho bà M.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại ngày 18/6/2021 và văn bản ngày 22/6/2021 ông Nguyễn Chí N đại diện cho bà M xác định lại yêu cầu khởi kiện của bà M như sau :
Bà M yêu cầu Tòa án Nhân dân tỉnh Kiên Giang giải quyết buộc Ủy ban nhân dân thành phố D ra Quyết định bồi thường đối với diện tích đất 250,08m2 theo đúng qui định của pháp luật.
Rút các yêu cầu khởi kiện theo đơn khởi kiện.
Trong quá trình giải quyết vụ kiện đại diện UBND thành phố D trình bày:
Theo Quyết định số 3037/QĐ-UBND ngày 30/12/2016 của UBND tỉnh Kiên Giang về phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2017 của thành phố D, Công văn số 1252/UBND-KTCN ngày 08/8/2017 của UBND tỉnh về việc thực hiện bổ dung danh mục dự án cần thu hồi đất năm 2017 đối với dự án chỉnh trang đô thị xây dựng dẫy nhà dọc đường 3 tháng 2, phường An Hòa, thành phố D, tỉnh Kiên Giang. UBND thành phố Rạch Gía tiến hành thu hồi đất theo Quyết định số 703/QĐ-UBND ngày 15/12/2017 của UBND thành phố Rạch Gía về việc thu hồi đất của bà Đỗ Thị M tại phường C, thành phố D để thực hiện công trình xây dựng đường và dãy nhà dọc đường 3 tháng 2, phường C, thành phố D.
Theo Quyết định số 637/QĐ-UBND ngày 18/12/2017 về việc bồi thường, hỗ trợ cho bà Đỗ Thị M; UBND thành phố D thực hiện thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ đối với bà Đỗ Thị M là đúng theo qui định của pháp luật.
UBND thành phố D giữ nguyên các quyết định bị kiện đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo qui định của pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Đại diện người khởi kiện, đại diện người bị kiện đều có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Kiên Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân nhân,Thư ký Tòa án, việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân nhân, Thư ký Tòa án; việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng là đúng quy định của Luật tố tụng hành chính.
Về nội dung: Qua xem xét tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị M là có căn cứ Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 3 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị M khởi kiện yêu cầu hủy Hủy một phần Quyết định thu hồi đất số 703/QĐ-UBND ngày 15/12/2017 của Ủy Ban Nhân Dân thành phố D đối với diện tích đất 250,08m2 do Nhà nước quản lý.
Ban hành Quyết định thu hồi đất đối với diện tích đất 250,08m2.
Ban hành Quyế định bồi thường theo đúng qui định của pháp luật đối với diện tích đất 250,08m2 cho bà M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ kiện được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng:
Về hời hiệu khởi kiện:
Ngày 15/12/2017 Ủy ban nhân dân thành phố D ra Quyết định số 703/QĐ-UBND thu hồi đất của bà M, ngày 26/01/2018 UBND thành phố D thụ lý đơn khiếu nại của bà M. Theo qui định tại Điều 28 Luật Khiếu nại thì thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu tối đa là 45 ngày kể từ ngày thụ lý. Ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND thành phố D đối với đơn khiếu nại của bà M là ngày 13/3/2018. Bà M nộp đơn kiện ngày 22/02/2019 là còn trong thời hiệu khởi kiện.
Tại phiên tòa sơ thẩm ông Nguyễn Chí N là người đại diện cho bà M, ông Nguyễn Văn Hôn là người đại diện cho UBND thành phố D đều có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử vắng mặt người khởi kiện, người bị kiện theo qui định tại Điều 158 Luật Tố tụng Hành chính.
Xét yêu cầu khởi kiện buộc UBND thành phố D ban hành Quyết định bồi thường khi thu hồi đất:
Ngày 15/12/2017 Ủy ban nhân dân thành phố D ra Quyết định số 703/QĐ-UBND thu hồi của bà M diện tích 741,01m2 đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, trong đó có diện tích đất 250,08m2 của bà M đang khiếu nại. Về nguồn gốc đất này do ông Đỗ Văn B cha của bà M tự khai phá và quản lý sử dụng từ trước năm 1975. Năm 2000 ông Ba cho bà M diện tích đất trên, tại thời điểm thu hồi đất bà M chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất đang khiếu kiện.
Sau khi thu hồi UBND thành phố D chỉ bồi thường cho bà M 490,93m2 đất, diện tích đất còn lại do trong Quyết định thu hồi đất ghi là đất Nhà nước quản lý nên bà M không được bồi thường.
Tại biên bản tiếp cận công khai chứng cứ ngày 18/6/2021 đại diện UBND thành phố D xác định diện tích đất 250,08m2 bà M không được xem xét bồi thường, hỗ trợ là đất nông nghiệp.
Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 21/8/2021 xác định trên diện tích đất 250,08m2 có cây trồng là bạch đàn, chuối, điệp, bần … cùng mục đích sử dụng như diện tích đất đã được bồi thường.
UBND thành phố D không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc Nhà nước quản lý như thế nào đối với diện tích đất này trước khi có quyết định thu hồi đất.
Căn cứ biên bản đo đạc kiểm kê diện tích đất đai, vật kiến trúc, cây trồng, hoa màu ngày 04/5/2017 của Ban bồi thường giải phóng mặt bằng của UBND thành phố D xác nhận, diện tích đất 250,08m2 của bà M có nguồn gốc do cụ Đỗ Văn B khai khẩn sử dụng trước năm 1975, sau đó cho lại con là bà M sử dụng cho đến nay.
Như vậy, có căn cứ để xác định diện tích đất 741,01m2 (trong đó có diện tích đất 250,08m2 bà M khởi kiện) tọa lạc tại phường An Hòa, thành phố D có quá trình sử dụng đất trước ngày 01/7/2004, không có tranh chấp với ai.
Diện tích đất 250,08m2 bà M chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, căn cứ khoản 2 Điều 77 Luật đất đai năm 2013 “ Đối với đất nông nghiệp đã sử dụng trước ngày 01/7/2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nhưng không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo qui định của luật này thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế sử dụng” như vậy, trường hơp của bà M đã điều kiện để được xem xét bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất; phù hợp theo qui định tại Điều 13 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày15/5/2014 qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai.
UBND thành phố D thu hồi đất của bà M diện tích 741,01m2 nhưng chỉ bồi thường, hỗ trợ diện tích 490,93m2, còn diện tích 250,08m2 không bồi thường, hỗ trợ cho bà M là trái quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ kiện bà M đã rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc hủy một phần quyết định số 703/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của ông để thực hiện công trình xây dựng dãy nhà dọc theo đường 2/3 diện tích 741,01m2 (gồm 490,93m2 đất trồng cây lâu năn và 250,08m2 đất là đất Nhà nước quản lý thuộc đê Quốc phòng). Thu hồi đất của bà nuồi.
Từ những nhận định trên sau khi thảo luận, Hội đồng xét xử nghị nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị M.
. Án phí hành chính sơ thẩm: UBND thành phố D phải chịu 300.000 đồng. Bà Đỗ Thị M được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí. Hoàn trả cho bà M tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 30, 32, 116, 158, 164, 193, 194 của Luật Tố tụng hành chính;
- Căn cứ khoản 2 Điều 77 Luật Đất đai năm 2013;
- Căn cứ Điều 13 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày15/5/2014 qui định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai.
- Căn cứ Điều 12, 32 của Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị M.
Hủy một phần Quyết định thu hồi đất số 703/QĐ-UBND ngày 15/12/2017 của Ủy Ban Nhân Dân thành phố D đối với diện tích đất 250,08m2 do Nhà nước quản lý.
Buộc Ủy Ban Nhân Dân thành phố D ban hành Quyết định thu hồi đất đối với diện tích đất 250,08m2.
Buộc Ủy Ban Nhân Dân thành phố D ban hành Quyết định bồi thường theo đúng qui định của pháp luật đối với diện tích đất 250,08m2 cho bà M.
Kiến nghị UBND huyện Phú Quốc ban hành quyết định thu hồi đất mới thay thế cho quyết định bị hủy theo đúng qui định của pháp luật.
2. Về án phí:
- Ủy ban nhân dân thành phố D phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
- Hoàn trả cho bà Đỗ Thị M tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001378 ngày 05 tháng 4 năm 2019 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
3. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Cục THA dân sự tỉnh Kiên Giang; - VKSND tỉnh Kiên Giang; - Lưu: hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Cẩm Thu |