- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng đặt cọc — án dân sự — "Ông Hoàng Huy T khởi kiện ông Lành Văn K"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo c a ông Hoàng Huy T, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2021/DS-ST ng 28 tháng 4 năm 2021 c a Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2021/DS-PT Ngày 10-8-2021 V/v tranh chấp hợp đồng đặt cọc |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lộc Sơn Thái.
Các Thẩm phán: Ông Hồ Đức Châm;
Ông Lê Xuân Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Phương Chi, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn: Bà Mông Thị Mai Phương, Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 10 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 19/2021/TLPT-DS ngày 23 tháng 6 năm 2021 về tranh chấp hợp đồng đặt cọc;
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2021/DS-ST ng 28 tháng 4 năm 2021 c a Tòa án nhân dân th nh phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 28/2021/QĐ-PT ngày 23 tháng 7 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hoàng Huy T, sinh năm 1968; địa chỉ: Số ..., L, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; hiện đang cư trú tại: Số ... đường T, khu V, thị trấn Đ, hu ện C, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- Bị đơn: Ông L nh Văn K, sinh năm 1969; địa chỉ: Số ..., thôn Đ, xã H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Phạm Thú H, sinh năm 1978; địa chỉ: Số …, đường B, phường H, th nh phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt;
2. Bà Ninh Thị H, sinh năm 1971; địa chỉ: Số ..., thôn Đ, xã H, th nh phố L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt;
3. Bà Bàn Thị H, sinh năm 1983; địa chỉ: Số …, L, H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Người kháng cáo: Ông Hoàng Huy T là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án dân sự sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngu ên đơn ông Hoàng Huy T trình bày: Ngày 08/8/2020, ông được bà Phạm Thú H dẫn đi xem đất tại khu tái định cư 3, khu Đ I mở rộng, th nh phố L, lúc ấ ông L nh Văn K ở trong ô tô, đỗ xe nga tại khu đất tái định cư 3, khu đô thị N I mở rộng, tại chỗ xem đất ông và bà Phạm Thú H đã thỏa thuận giá đất l 1.180.000.000 đồng, ông đồng ý mua đất, sau đó mọi người cùng về nh bà Phạm Thú H để ký hợp đồng đặt cọc, lúc đó b Phạm Thú H và ông Lành Văn K cùng đi 1 xe ô tô với nhau, về đến nh b Phạm Thú H, ông L nh Văn K đã đưa cho ông xem tờ giấ thông báo nộp lệ phí trước bạ có ghi số lô, số thửa đất là thửa đất số 456 ô số 10, tờ bản đồ số 105 tại khu đô thị N, xã Hoàng Đồng I, th nh phố L, tỉnh Lạng Sơn các bên đã ghi số lô, số thửa đất trên tờ giấ thông báo nộp thuế đất v o trong hợp đồng đặt cọc. Ông đã đặt cọc cho ông L nh Văn K 50.000.000 đồng, 2 bên hẹn nhau đến ng 28-8-2020, sẽ cùng ký hợp đồng chu ển nhượng qu ền sử dụng đất.
Ngày 28-8-2020 ông L nh Văn K gọi điện cho ông bảo l được sổ đỏ rồi v bảo ông đến ký hợp đồng chu ển nhượng qu ền sử dụng đất. Ông bảo ông L nh Văn K là hôm nay là thứ 6 rồi để thứ 2 sẽ đi ký hợp đồng. Ông L nh Văn K đã đồng ý để đến thứ 2 sẽ l m th tục ký hợp đồng mua đất. Sáng ng 31-8-2020, ông L nh Văn K đã gọi ông bảo đi công chứng ký hợp đồng thì ông bảo ông L nh Văn K l ra thực địa để xác định chính xác vị trí thửa đất, lúc đó có mặt ông, bà Phạm Thú H, ông L nh Văn K v 1 người cán bộ c a dự án, ông không biết tên, đã xác định đất trong sổ đỏ c a ông L nh Văn K l ở tái định cư 6 không phải tái định cư 3 như ông đã được đi xem ban đầu nên ông không mua nữa. Lúc đó ông L nh Văn K không có ý kiến gì, còn b Phạm Thú H bảo ông là "Anh muốn mua ở tái định cư 3 thì để em đi ngoại giao". Ông đã chờ b Phạm Thú H đi ngoại giao, b Phạm Thú H có dẫn ông đi xem mấ chỗ đất khác nhưng ông không đồng ý. Đến hôm tòa án đi thẩm định thì ông mới biết l đất ông L nh Văn K được cấp sổ đỏ thực chất l ở tái định cư 7. Theo ông xả ra việc mua bán đất giữa ông v ông L nh Văn K không thành là do ông Lành Văn K không tìm hiểu kỹ về thửa đất định bán cho ông, không biết đất c a mình ở đâu chứ không phải l ông L nh Văn K định lừa ông.
Ngày 20-9-2020 ông đã đến nh ông L nh Văn K để đòi lại tiền cọc thì ông L nh Văn K bảo trừ c a ông 10.000.000 đồng vì ông L nh Văn K đã phải chi phí l m sổ đỏ nhanh rồi. Ông không nhất trí. Ông đã bảo ông L nh Văn K là không phải l ông không mua m l đất không đúng vị trí ban đầu đi xem, nếu lúc đó ông L nh Văn K trả lại ông đ 50.000.000 đồng thì ông cũng đồng ý. Nếu bây giờ đất c a ông L nh Văn K trong sổ đỏ đúng vị trí đất ban đầu ông đi xem l tái định cư 3 thì ông vẫn mua với giá thỏa thuận. Ngày 25-9-2020, ông Hoàng Huy T l m đơn khởi kiện, êu cầu ông L nh Văn K trả lại ông tiền cọc l 50.000.000 đồng v 50.000.000 đồng tiền phạt cọc. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Hoàng Huy T giữ ngu ên êu cầu khởi kiện.
Bị đơn ông L nh Văn K trình bày: Ông được cấp 01 lô đất tái định cư tại khu đô thị Nam Ho ng Đồng I mở rộng, ông đã đi bốc thăm được ô số 10, tái định cư 7, ông chưa được giao đất trên thực điạ. Do không có nhu cầu sử dụng nên ông đã nhờ b Phạm Thú H, là người môi giới đất rao bán đất giúp ông. Trước khi ký hợp đồng với ông Hoàng Huy T, ông đã dẫn b Phạm Thú H đi chỉ l đất c a ông ở khu tái định cư 3 để b Phạm Thúy H rao bán đất cho ông. Ông không được đưa ông Hoàng Huy T ra tái định cư 3 để chỉ đất trước khi ký hợp đồng đặt cọc. Ông v ông Hoàng Huy T đã ký hợp đồng đặt cọc ngày 08-8-2020, ông đã được nhận c a ông Tú 50.000.000 đồng tiền cọc. Tranh chấp xả ra thì ông không nhất trí trả tiền cọc cho ông Hoàng Huy T, cứ theo hợp đồng đặt cọc m l m, ai sai thì người ấ chịu. Ông Hoàng Huy T đã đặt cọc cho ông để mua đất nhưng việc mua bán đất không th nh l do ông Hoàng Huy T không mua đất c a ông, ông Hoàng Huy T không mua đất thì ông Hoàng Huy T mất tiền cọc.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thúy H trình bày: Ông L nh Văn Khái bảo có 1 lô đất muốn bán, qua 1 người bạn nói thì bà biết là ông Hoàng Huy T muốn mua đất nên b đã giới thiệu cho ông Hoàng Huy T mua, trước đó ông L nh Văn K đã dẫn b đi xem đất c a ông L nh Văn K là tại khu tái định cư 3 khu đô thị N I mở rộng. Lúc bà dẫn ông Hoàng Huy T đi xem đất thì có mặt bà và ông Hoàng Huy T, ông L nh Văn K ngồi trên xe ô tô gần chỗ bà chỉ đất cho ông Hoàng Huy T. Tại thực địa thì bà và ông Hoàng Huy T đã thỏa thuận giá bán thửa đất l 1.180.000.000 đồng v 2 bên đã về nh b để làm hợp đồng đặt cọc, lúc làm hợp đồng đặt cọc thì có mặt bà, ông L nh Văn K, vợ ông L nh Văn K, ngoài ra không còn ai khác. Ông Hoàng Huy T và ông Lành Văn K đã ký hợp đồng đặt cọc để giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 456 ô số 10, tái định cư 7, tờ bản đồ số 105, khu đô thị Nam ho ng Đồng I mở rộng, thành phố Lạng Sơn. Ông Hoàng Huy T đã đưa cho ông L nh Văn K 50.000.000 đồng tiền cọc. Sau khi lấ được sổ đỏ về thì bà, ông Hoàng Huy T, ông L nh Văn K xuống thực địa để xem vị trí thửa đất mà ông L nh Văn K đã được cấp sổ đỏ thì thấy vị trí đất trong sổ đỏ là khác hoàn toàn so với vị trí đất ban đầu mà ông Hoàng Huy T được đi xem. Khi thấy vị trí đất trong sổ đỏ trên thực địa không đúng với vị trí đất ban đầu ông Hoàng Huy T được xem thì ông Hoàng Huy T đã không đồng ý mua đất c a ông L nh Văn K nữa. Theo bà hợp đồng mua đất không giao kết được là lỗi c a ông L nh Văn K.
Người có qu ền lợi nghĩa vụ liên quan bà Ninh Thị H trình bày: Bà l vợ c a ông L nh Văn K. B có được biết sự việc đặt cọc tiền mua đất như nội dung ông L nh Văn K đã trình b , b nhất trí với ý kiến c a ông L nh Văn K.
Người có qu ền lợi nghĩa vụ liên quan bà B n Thị H trình bày: Bà l vợ c a ông Hoàng Huy T. Thời điểm ông Hoàng Huy T đi mua đất v đặt cọc tiền b không có mặt nên không nắm được sự việc. B nhất trí với ý kiến c a ông Hoàng Huy T, không có ý kiến gì thêm.
Bản án sơ thẩm số 05/2021/DS-ST ng 28 tháng 4 năm 2021 c a Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 147; 157; 271; 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 126; 131; 429; 468 Bộ luật dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 4 điều 26, khoản 4 Điều 27 Nghị qu ết 326/2016/UBTVQH14, ng 30/12/2016 c a Ủ ban Thường vụ Quốc hội qu định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án; quyết định:
Chấp nhận 1 phần yêu cầu khởi kiện c a ngu ên đơn ông Hoàng Huy T cụ thể: Tuyên bố hợp đồng đặt cọc ngày 08-08-2020 giữa ông Hoàng Huy T và ông L nh Văn K về việc đặt cọc để giao kết hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 456 ô số 10, tái định cư 7, tờ bản đồ số 105 tại khu đô thị N I mở rộng, xã H, thành phố L là vô hiệu. Buộc ông L nh Văn K phải trả cho ông Hoàng Huy T số tiền đặt cọc 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng. Thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Nghĩa vụ chậm trả: Kể từ ngày ông Hoàng Huy T có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông L nh Văn K vi phạm nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo qu định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Không chấp nhận yêu cầu c a ông Hoàng Huy T về việc yêu cầu ông L nh Văn K trả số tiền phạt cọc l 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.
Về chi phí tố tụng: Ông Hoàng Huy T tự nguyện chịu chịu chi phí thẩm định l 1.200.000 đồng. Ông Hoàng Huy T đã nộp đ chi phí thẩm định.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn buộc ông L nh Văn K phải chịu 2.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, mi n án phí dân sự cho ông Hoàng Huy T và tuyên qu ền kháng cáo cho các đương sự theo qu định pháp luật.
Trong thời hạn luật định, ngu ên đơn ông Hoàng Huy T kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm buộc ông L nh Văn K phải trả ông 50.000.000 đồng tiền cọc v 50.000.000 đồng tiền phạt cọc theo hợp đồng hai bên đã ký.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Ngu ên đơn ông Hoàng Huy T yêu cầu ông Lành Văn K phải trả ông 50.000.000 đồng tiền đặt cọc và 50.000.000 đồng tiền phạt cọc tuy nhiên nếu tại phiên tòa ông L nh Văn K đồng ý trả tiền luôn cho ông Hoàng Huy T thì ông chỉ yêu cầu ông L nh Văn K phải trả ông 50.000.000 đồng tiền đặt cọc và 25.000.000 đồng tiền phạt cọc.
Bị đơn ông L nh Văn K, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Ninh Thị H không nhất trí với yêu cầu c a ông Hoàng Huy T.
Ý kiến c a đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tại phiên tòa phúc thẩm:
Về th tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa chấp h nh đúng qu định c a Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự cơ bản chấp hành đúng theo qu định c a Bộ luật Tố tụng dân sự;
Về nội dung vụ án: Về đơn kháng cáo c a ông Hoàng Huy T là kháng cáo hợp lệ. Do việc kháng cáo c a ông Hoàng Huy T không có cơ sở đề chấp nhận nên đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự xử không chấp nhận kháng cáo c a ông Hoàng Huy T, giữ nguyên bản án dân sự số 05/2021/DS-ST ngày 28/4/2021 c a Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tuy nhiên do lời tuyên c a Bản án sơ thẩm không phù hợp về quyền yêu cầu thi hành án đề nghị Hội đồng xét xử sửa lời tuyên c a Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thúy H; bà Bàn Thị H nhưng đã có lời khai trong hồ sơ, không có êu cầu kháng cáo; tại phiên tòa ngu ên đơn, bị đơn v Kiểm sát viên đề nghị xét xử vắng mặt bà Phạm Thúy H; bà Bàn Thị H. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 296 c a Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử theo th tục chung.
Xét kháng cáo c a ông Hoàng Huy T thấy rằng: Đối với yêu cầu buộc ông L nh Văn K phải trả ông Hoàng Huy T 50.000.000 đồng tiền cọc l có căn cứ, đã được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận; đối với yêu cầu buộc ông L nh Văn K phải trả ông Hoàng Huy T 50.000.000 đồng tiền phạt cọc, nếu nếu tại phiên tòa ông L nh Văn K đồng ý trả tiền luôn cho ông Hoàng Huy T thì ông chỉ yêu cầu ông L nh Văn K phải trả 25.000.000 đồng tiền phạt cọc là không phù hợp, cụ thể:
Ông Hoàng Huy T và ông L nh Văn K ký kết hợp đồng đặt cọc với mục đích để giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 456 ô số 10, tờ bản đồ số 105 tại tái định cư 7, khu đô thị N I mở rộng, xã Ho ng Đồng, thành phố Lạng Sơn vào ngày 08-08-2020 thì cả 2 bên đương sự đều nhầm lẫn về đối tượng khi cho rằng thửa đất sô 456 ô số 10, tờ bản đồ số 105, tái định cư 7 tại khu đô thị N I mở rộng, xã H, thành phố L chính là thửa đất mà mà bà Phạm Thúy H đã được ông L nh Văn K chỉ cho v sau đó b Phạm Thúy H đã dẫn ông Hoàng Huy T đi xem l thuộc ô số 21 khu tái định cư 3, khu đô thị N I mở rộng, thành phố L. Do vậy, có cơ sở xác định hợp đồng đặt cọc ngày 08-08-2020 giữa ông Hoàng Huy T và ông L nh Văn K là vô hiệu do nhầm lẫn đối tượng (vị trí thửa đất) nên không l m phát sinh, tha đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự c a các bên kể từ thời điểm xác lập. Các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận 1 phần yêu cầu khởi kiện c a ngu ên đơn ông Hoàng Huy T, tuyên bố hợp đồng đặt cọc vô hiệu và buộc ông L nh Văn K phải trả cho ông Hoàng Huy T số tiền mà ông Hoàng Huy T đặt cọc 50.000.000 đồng l có căn cứ.
Theo các bên đương sự trình bày và thừa nhận thì trước khi ký hợp đồng đặt cọc ông L nh Văn K chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để đưa cho ông Hoàng Huy T xem, mà ông L nh Văn K chỉ đưa cho ông Hoàng Huy T xem tờ thông báo nộp lệ phí trước bạ có ghi số lô số thửa đất mà ông L nh Văn K được cấp đất tái định cư l ô số 10, tái định cư 7 tại khu đô thị N I mở rộng, xã H, thành phố L. Ông Hoàng Huy T có lỗi là trước khi ký kết hợp đồng đặt cọc để mua đất đã không tìm hiểu kỹ thửa đất mình định mua c a ai, cũng đề nghị các cơ quan chu ên môn để xác định chính xác vị trí thửa đất mà ông L nh Văn K được cấp tái định cư l vị trí nào trên thực địa, tứ cận tiếp giáp thửa đất nào, không làm rõ xem thửa đất được ghi trong thông báo nộp lệ phí trước bạ mà ông L nh Văn K đưa cho ông Hoàng Huy T xem hôm ký hợp đồng đặt cọc ngày 08-8-2020 có phải thửa đất m ông đã được bà Phạm Thúy H dẫn đi xem không đã ký hợp đồng đặt cọc để mua đất c a ông L nh Văn K. Còn ông L nh Văn K có lỗi là ông mới chỉ đi bốc thăm thửa đất tái định cư, ông chưa được giao đất tái định cư trên thực địa, bản thân ông cũng không biết chính xác vị trí thửa đất m ông được cấp tái định cư l ở chỗ nào, tứ cận tiếp giáp với lô, thửa n o m đã cho b Phạm Thúy H để tìm người bán và nhận tiền đặt cọc để bán đất. Xét thấy cả hai bên đương sự đều có lỗi làm cho hợp đồng đặt cọc vô hiệu. Theo qu định tại điểm đ, khoản 1, mục 1 nghị quyết số 01 /2003/NQ-HĐTP ng 16/4/2003 c a Tòa án nhân dân tối cao thì "trong trường hợp 2 bên cùng có lỗi thì không phạt cọc", do đó ông Hoàng Huy T yêu cầu ông L nh Văn K trả 50.000.000 đồng tiền phạt cọc là không phù hợp.
Vì vậy, bản án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu buộc ông Lành Văn K phải trả ông Hoàng Huy T 50.000.000 đồng tiền phạt cọc là phù hợp với qu định c a pháp luật; do đó không có căn cứ để sửa bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, tại phần quyết định c a bản án sơ thẩm đã tu ên: Buộc ông Khái phải trả ông Tú 50.000.000đ, thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực l không đúng, mâu thuẫn với quyền yêu cầu thi hành án c a người yêu cầu thi hành án nên Hội đồng xét xử sửa lời tuyên c a Bản án sơ thẩm.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy kháng cáo ông Hoàng Huy T l không có cơ sở chấp nhận. Xét, đề nghị c a đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa l có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí phúc thẩm, kháng cáo không được chấp nhận nên theo quy định ông Hoàng Huy T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, ông Hoàng Huy T là người khuyết tật thuộc trường hợp được mi n án phí và đã có đơn xin mi n án phí. Do vậ căn cứ v o điểm đ khoản 1 Điều 12 v Điều 14 Nghị qu ết 326/2016/UBTVQH14, ng 30-12-2016 c a Ủ ban Thường vụ Quốc hội qu định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý v sử dụng án phí v lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử mi n án phí dân sự phúc thẩm cho ông Hoàng Huy T.
Các phần khác c a bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 c a Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 v Điều 14 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 c a Ủ ban thường vụ Quốc hội về qu định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo c a ông Hoàng Huy T, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2021/DS-ST ng 28 tháng 4 năm 2021 c a Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Sửa phần lời tuyên, cụ thể:
Chấp nhận 1 phần yêu cầu khởi kiện c a ngu ên đơn ông Hoàng Huy T cụ thể: Tuyên bố hợp đồng đặt cọc ngày 08-08-2020 giữa ông Hoàng Huy T và ông L nh Văn K về việc đặt cọc để giao kết hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 456 ô số 10, tái định cư 7, tờ bản đồ số 105 tại khu đô thị Nam Ho ng Đồng 1 mở rộng, xã Ho ng Đồng, thành phố Lạng Sơn là vô hiệu. Buộc ông L nh Văn K phải trả cho ông Hoàng Huy T số tiền đặt cọc 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.
Nghĩa vụ chậm trả: Kể từ ngày ông Hoàng Huy T có đơn êu cầu thi hành án nếu ông L nh Văn K vi phạm nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo qu định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
2. Các phần khác c a bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
3. Về án phí phúc thẩm: Ông Hoàng Huy T được mi n án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (10/8/2021).
| Nơi nhận: - TANDCC tại Hà Nội; - VKSNDCC tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Tổ HCTP, Phòng KTNV&THA; - TAND thành phố Lạng Sơn, T.Lạng Sơn; - CCTHADS thành phố L, T.Lạng Sơn; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, TDS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lộc Sơn Thái |