vanban.org

Bản án 38/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Cái Răng, TP. Cần Thơ Tuyên án 26/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Thái Thị Thanh T phạm tội: ”Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Thái Thị Thanh T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 04/5/2020. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ trộm cắp tài sản theo thủ tục rút gọn, bị cáo Thái Thị Thanh T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Thái Thị Thanh T phạm tội: ”Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN C
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2020/HSST
Ngày: 26/5/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN C

Với thành phần những người tiến hành tố tụng :

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang.

Thư ký phiên tòa: Bà Nhâm Thị Thanh Trang - là thư ký Toà án nhân dân quận C.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận C tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2020 Toà án nhân dân quận C mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số: 50/2020/HSST ngày 15 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2020/QĐXXXT-HS ngày 19/5/2020 đối với bị cáo:

Thái Thị Thanh T. Sinh năm: 1978. ĐKTT: 142/4D/1 đường D, Khu vực 4, phường T, quận BT, thành phố Cần Thơ; Chỗ ở hiện nay: Nhà trọ không số, Tổ 4, Khu vực 4, phường HT, quận C, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Thái Trường T (chết) và bà: Trần Thị N (chết); tiền án: Không; tiền sự: 01 lần: ngày 07/4/2015, bị Công an phường A, quận K, thành phố Cần Thơ xử phạt 1.500.000đ về hành vi “Đánh bạc trái phép” nhưng chưa chấp hành xong quyết định xử phạt. Bị cáo bị tạm giữ ngày 04/5/2020, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Nguyễn Thị Cẩm L; sinh năm: 1981 và anh Đặng Văn Q; sinh năm: 1980. HKTT: Ấp L, xã T, huyện VT, tỉnh Hậu Giang. Chỗ ở hiện nay: Nhà trọ không số, Tổ 4, Khu vực 4, phường HT, quận C, thành phố Cần Thơ. (Chị L có mặt, anh Q vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận C truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Thái Thị Thanh T là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, thuê phòng ở tại Nhà trọ không số thuộc Tổ 4, Khu vực 4, phường HT, quận C, thành phố Cần Thơ. Khoảng 00 giờ 20 phút, ngày 04/5/2020, T đi về phòng trọ, phát hiện phòng trọ của vợ chồng chị Nguyễn Thị Cẩm L và anh Đặng Văn Q ở phía sau phòng trọ của T còn sáng đèn, cửa không khóa; T đi đến nhìn vào bên trong, thấy mọi người đang ngủ nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T đi vào bên trong phòng ngủ của chị L, lấy 02 giỏ xách tay màu đen để trong góc phòng cạnh đầu giường rồi đi ra, đến cửa phòng thì bị chị L thức dậy phát hiện, truy hô, cùng anh Q đuổi bắt và báo Công an phường HT, quận C, thành phố Cần Thơ.

Vật chứng thu giữ: 02 giỏ xách tay màu đen, bên trong có 01 sợi dây chuyền vàng; 01 mặt dây chuyền bông đúc mặt trắng; số tiền 4.500.000đ; 01 giấy chứng minh nhân dân; 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thị Cẩm L.

Tại Kết luận định giá tài sản số 28/TCKH-HĐĐG ngày 07/5/2020 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: 01 sợi dây chuyền vàng trọng lượng 04 chỉ 00 phân 01 li, loại vàng 18K và 01 mặt dây chuyền bông đúc mặt trắng trọng lượng 01 chỉ 00 phân 07 li, loại vàng 18K, có giá trị là 15.748.000đ.

Tại Cơ quan Điều tra, Thái Thị Thanh T đã thừa nhận hành vi phạm tội.

Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận C đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chị L: 02 giỏ xách màu đen; 01 sợi dây chuyền vàng; 01 mặt dây chuyền bông đúc mặt trắng; số tiền 4.500.000đ; 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thị Cẩm L.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 02/QĐ-VKSCR ngày 13/5/2020 Viện kiểm sát nhân dân quận C đã truy tố Thái Thị Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như quyết định truy tố đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu kết luận vụ án:

- Vẫn giữ quan điểm truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản luật đã viện dẫn.

- Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; ngoài ra, theo Thông báo của Nhà tạm giữ Công an quận C ngày 08/5/2020 thì bị cáo đang mang thai; bên cạnh đó, tại phiên tòa, bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Về vật chứng: Cơ quan Điều tra đã trả lại cho chị L: 02 giỏ xách màu đen; 01 sợi dây chuyền vàng; 01 mặt dây chuyền bông đúc mặt trắng; số tiền 4.500.000đ; 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thị Cẩm L, đề nghị công nhận việc xử lý vật chứng của Cơ quan Điều tra.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung quyết định truy tố đã nêu. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại là chị Nguyễn Thị Cẩm L và anh Đặng Văn Q tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản tiếp nhận người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang ngày 04/5/2020 và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, xét thấy có đủ cơ sở để kết luận:

Hành vi bị cáo Thái Thị Thanh T lén lút lấy trộm 02 giỏ xách; trong đó, có 01 sợi dây chuyền vàng trọng lượng 04 chỉ 00 phân 01 li, loại vàng 18K; 01 mặt dây chuyền bông đúc mặt trắng, trọng lượng 01 chỉ 00 phân 07 li, loại vàng 18K; số tiền 4.500.000đ; tổng cộng, có giá trị tài sản là 20.248.000đ (Hai mươi triệu hai trăm bốn mươi tám ngàn đồng) của vợ chồng chị Nguyễn Thị Cẩm L và anh Đặng Văn Q, vào ngày 04/5/2020 tại Khu vực 4, phường HT, quận C, thành phố Cần Thơ, đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là chính xác.

Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, đồng thời gây mất trật tự, an toàn xã hội ở địa phương.

Xét thấy, bị cáo đã trưởng thành, đã đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình. Bị cáo biết được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do lười biếng lao động lại muốn có tiền tiêu xài nên vẫn thực hiện hành vi phạm tội, cho thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cần phải có hình phạt nghiêm khắc, bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù để giáo dục, cải tạo cho bị cáo biết tôn trọng pháp luật, tôn trọng quyền sở hữu tài sản của người khác và có tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội.

Hội đồng xét xử xét thấy khi lượng hình cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho bị cáo như sau:

Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; ngoài ra, theo Thông báo của Nhà tạm giữ Công an quận C ngày 08/5/2020 thì bị cáo đang mang thai; người bị hại có yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không giải quyết.

Về vật chứng: Cơ quan Điều tra đã trả lại: 02 giỏ xách màu đen; 01 sợi dây chuyền vàng; 01 mặt dây chuyền bông đúc mặt trắng; số tiền 4.500.000đ; 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thị Cẩm L cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Cẩm L là đúng quy định pháp luật nên công nhận việc xử lý vật chứng của Cơ quan Điều tra.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; điểm h, i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Thái Thị Thanh T phạm tội: ”Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Thái Thị Thanh T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 04/5/2020.

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không giải quyết.

3. Về vật chứng: Áp dụng: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

- Công nhận việc xử lý vật chứng của Cơ quan Điều tra: đã trả cho chị Nguyễn Thị Cẩm L: 02 giỏ xách màu đen; 01 sợi dây chuyền vàng; 01 mặt dây chuyền bông đúc mặt trắng; số tiền 4.500.000đ; 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thị Cẩm L.

4. Về án phí: căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án và danh mục án phí;

Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa, kể từ ngày nhận được bản sao bản án đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa; bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ