vanban.org

Bản án 38/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 14/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRIỆU SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2020/HSST
Ngày 14 tháng 7 năm 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN TỈNH THANH HÓA

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Hợp

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Ninh và bà Nguyễn Thị Trúc

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Ngọc Thành, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn xét xử công khai sơ thẩm vụ hình sự thụ lý số 30/2020/HSST ngày 22/5/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2020/QĐXX-HS ngày 28/5/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa ngày 15 ngày 17/67/2020 đối với: Bị cáo: Nguyễn Văn L - Sinh năm 1992 Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Xóm 7, xã XH, huyện XT, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Quốc T và bà Lê Thị Th đều cư trú và làm ruộng tại xã XH, huyện XT, tỉnh Nam Đinh; gia đình có ba anh em, bị cáo là con út, chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:

Ngày 23/4/2013 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, đã chấp hành xong.

Ngày 23/4/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS, bị tạm giữ tạm giam từ ngày 06/01/2020, hiện đang chấp hành án theo Quyết định thi hành án số 52/2020/QĐ-CA ngày 26/5/2020 của Chánh án Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, có mặt

- Người bị hại: Anh Lê Văn L, sinh năm 1986,

Địa chỉ: Thôn NĐ, xã TD, huyện TS, tỉnh Thanh Hóa, có đơn xin xử án vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 02/01/2020, bị cáo L bắt xe khách nhà xe HL (có trụ sở tại đường Dương Đình Nghệ, phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa) từ bến xe Giáp Bát –Hà Nội về tỉnh Thanh Hóa với mục đích trộm cắp tài sản, khi đến ngã tư Đà, thuộc thôn Ngọc Đà, xã Thọ Dân, huyện Triệu Sơn thì xuống xe và thuê nhà nghỉ gần đó ở lại. Khoảng 7 giờ 00 phút ngày 03/01/2020 bị cáo đi bộ vào chợ Đà thuộc thôn Ngọc Đà, xã Thọ Dân, huyện Triệu Sơn để tìm kiếm tài sản trộm cắp, khi vào trong chợ quan sát thấy 1 xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen BKS 36B1-31160 của anh Lê Văn L dựng trong chợ, không người trông coi, bị cáo đi lại dùng chìa khóa có sẵn mở khóa xe nhưng không mở được sau đó dắc xe một vòng quanh chợ Đà rồi đi ra ngã tư Đà, xã Thọ Dân, theo đường QL47, hướng từ ngã tư Đà đi xã Dân Lực, huyện Triệu Sơn, đi được khoảng 01km, thấy quán sửa xe của anh Lê Văn T, thôn NQ, xã TD, bị cáo dắc xe vào nhờ anh T đấu dây điện, sau khi nổ được máy, bị cáo điều khiển chạy về hướng thành phố Thanh Hóa, rồi theo quốc lộ 1A về nhà anh Trần Văn B, sinh năm 1986, ở xóm X, xã XH, huyện XT, tỉnh Nam Định và để xe trộm cắp được dùng làm phương tiện đi lại; sáng ngày 06/01/2020 bị cáo điều khiển chiếc xe máy trên đến cây xăng thuộc xã Giao Thịnh, huyện Giao Thủy, để xe tại cây xăng rồi đi bộ đến chợ Bến thuộc xã Giao Phong, huyện Giao Thủy, mục đích tìm kiếm tài sản để trộm cắp, bị cáo quan sát thấy 1 xe máy BKS 29Y3-45220 của anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1986 ở đội 1, TP xã BL, huyện GT dựng cạnh khu vực bán cá không người trông coi liền dắc xe máy đi vào xã Giao Phong thì bị quần chúng nhân dân bắt giữ người và xe giao cơ quan Công an. Đối với hành vi trộm cắp chiếc xe máy BKS 29Y3-45220 ngày 06/01/2020 tại chợ Bến xã Giao Phong, huyện Giao Thủy, Công an huyện Giao Thủy đã khởi tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 BLHS. Đối với hành vi trộm cắp xe máy BKS 36B1-31160 ngày 03/02/2020 tại chợ Đà, xã Thọ Dân, huyện Triệu Sơn, Công an huyện Giao Thủy chuyển cho Công an huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 05/02/2020 Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Triệu sơn đã kết luận xe máy nhận hiệu Yamaha BKS 36B1-31160 trị giá 8.500.000đ và giao trả lại xe cho chủ sơ hữu, bị hại không có yêu cầu gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số 31/CT- VKS ngày 18/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (BLHS), tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” về hình phạt áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38 BLHS, để xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù, áp dụng Điều 56 BLHS tổng hợp với 12 tháng tù tại Bản án số 23 ngày 23/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, buộc bị cáo phái chấp hành hình phạt chung hai bản án từ 24 đến 27 tháng tù,được trừ thời gian tạm giữ tạm giam của bản án trước, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, tại đơn xin xử án vắng mặt không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Phần tranh luận: Bị cáo nhận tội như Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, không có tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình là phạm tội đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người làm chứng đều không có khiếu nại, tố cáo gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện thể hiện trong hồ sơ đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 02/01/2020 bị cáo bắt xe khách nhà xe Hiền Lan, ở thành phố Thanh Hóa, tuyến Giáp Bát- Hà Nội về Thanh Hóa – Triệu Sơn, đến ngã tư Đà xã Thọ Dân, huyện Triệu Sơn, xuống xe thuê nhà nghỉ gần đó đến sáng ngày 03/01/2020 bị cáo vào khu vực chợ Đà, xã Thọ Dân mục đích xem có ai sơ hở tài sản để trộm cắp. quan sát thấy xe máy BKS 36B1-31160 của anh L để trong chợ không người trông coi nên dùng chìa khóa mang theo mở khóa điện, không mở được bị cáo dắc xe ra ngã tư Đà, theo hướng Đà đi xã Dân Lực, đi được khoảng 01km thì gặp quán sửa xe máy nhà anh Lê Văn T ở thôn NQ, xã TD, bị cáo nhờ anh T đấu dây điện và nổ máy sau đó đi tiếp về hướng thành phố Thanh Hóa rồi về nhà anh Trần Văn B, sinh năm 1986, ở xóm 4, xã XH, huyện XT, tỉnh Nam Định,dùng xe vừa trộm cắp được làm phương tiện đi lại, sáng ngày 06/01/2020 bị cáo dùng chiếc xe máy trộm cắp ở Triệu Sơn đi đến cây xăng thuộc xã Giao Thịnh, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, để xe tại cây xăng rồi đi bộ đến chợ Bến thuộc xã Giao Phong, huyện Giao Thủy, Nam Định mục đích tìm kiếm tài sản để trộm cắp, tại đây bị cáo đã trộm cắp 01 xe máy BKS 29Y3-45220 của anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1986 xã BL, huyện GT và đang trên đường tẩu tán tài sản thì bị bắt giữ.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai người bị hại, người làm chứng, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy Cáo trạng số 31/CT/VKS ngày 18/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS, là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

HĐXX đủ căn cứ kết luận hành vi trộm cắp xe máy BKS 36B1-31160 ngày 03/01/2020 tại chợ Đà, xã Thọ Dân, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa của bị cáo Nguyễn Văn L đủ dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.

Xét tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu an ninh trật tự trị an tại địa phương, bị cáo tuổi đời còn trẻ nhưng không chịu lao động chính đáng để phục vụ bản thân mà chỉ thích hưởng thụ nên đã thực hiện hành vi trộm cắp nên cần thiết áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn. ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

- Nhân thân bị cáo: Bị cáo không tiền án, tiền sự. Nhưng hân thân xấu, ngày 23/4/2013 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nam Định xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng, đã chấp hành xong,

Ngày 23/4/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS, hiện đang chấp hành án theo Quyết định thi hành án số 52/2020/QĐ-CA ngày 26/5/2020 của Chánh án Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, đây là hành vi phạm tội xảy ra sau nhưng xét xử trước, nên sau khi quyết định hình phạt của tội đang xét xử và áp dụng Điều 55, 56 BLHS tổng hợp hình phạt hai bản án buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung.Với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt và răn đe phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù lẽ ra bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 173 BLHS nhưng xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe máy BKS 36B1-31160 bị cáo trộm cắp của anh Lê văn L, cơ quan điều tra đã trả lại cho anh L, tại đơn xin xử án vắng mặt anh L không yêu cầu gì thêm nên không xem xét, các vật chứng khác, bản án trước đó đã xử lý nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QuyÕt ®Þnh

Căn cứ: khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38,56 BLHS.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 12 ( mười hai) tháng tù, tổng hợp với 12 tháng tù tại bản án số 23/HSST ngày 23/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung hai bản an là 24 (hai bốn) tháng, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam của bản án trước (ngày 06/01/2020)

Áp dụng: Khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 336 và khoản 1 Điều 337 BLTTHS; Khoản1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo,kháng nghị: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết, thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ