vanban.org

Bản án 38/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 10/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp với phần hình phạt 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số: 81/2019/HS-ST ngày 30/11/2019 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ. Buộc bị cáo Nguyễn Hữu D phải chấp hành hình phạt chung ch… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu D - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VĨNH LONG
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2020/HS-ST
Ngày: 10-6-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hải Châu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Tư

2. Ông Nguyễn Văn Cường

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn An Phước - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Võ Hoài Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 36/2020/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 39/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu D, sinh năm 1985; tên gọi khác: Đ; tại: Thành phố Cần Thơ; nơi cư trú: Số H, khu vực H, phường T, quận R, thành phố Cần Thơ; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Không; cha tên Nguyễn Văn N, sinh năm 1953, mẹ tên Phạm Thị Hồng N, sinh năm 1951; vợ Nguyễn Thị X, sinh năm 1990 và 02 con.

Tiền sự: Không.

Tiền án: 02 lần.

Lần 1: Ngày 07/3/2019 bị Tòa án nhân dân thành huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa chấp hành xong.

Lần 2: Ngày 06/5/2019 bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa chấp hành xong.

Nhân thân: Ngày 24/01/2007 bị Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, đã chấp hành xong.

Ngày 23/6/2009 bị Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xử phạt 09 tháng tù tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong.

Ngày 30/11/2019 bị Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa chấp hành xong.

Bị cáo đang chấp hành án trong một bản án khác, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Dương Hữu P, sinh năm 1965; nơi cư trú: Số T đường H, Phường M, thành phố L, tỉnh Vĩnh Long.

Người đại diện theo ủy quyền cho ông Dương Hữu P: Anh Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1973; nơi cư trú: Ấp M, xã N, huyện H, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Trung P, sinh năm 1981; nơi cư trú: Số C, tổ K, ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 12/10/2019, Nguyễn Hữu D điều khiển xe mô tô 60F7-1517 đi từ nhà tại số H khu vực H, phường T, quận R, thành phố Cần Thơ đến khu vực siêu thị Co.op Mart Vĩnh Long thuộc Phường M, thành phố Vĩnh Long để rủ một người tên T (nhưng không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) cùng đi mua ma túy sử dụng thì T đồng ý. Do cả bị cáo D và T đều không có tiền nên nảy sinh ý định đi trộm tài sản để lấy tiền mua ma túy sử dụng. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày Nguyễn Hữu D điều khiển xe mô tô 60F7-1517 chở T đến bên ngoài nhà máy nước đá P, địa chỉ số B đường H, Phường T, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long thì D nhìn thấy bên trong nhà máy vắng người và thấy có hai xe ô tô tải mang biển kiểm soát 64C-043.20 và xe ô tô tải biển kiểm soát 61C-126.47 đang đậu trong sân nhà máy nước đá P nhưng không có người trong coi. D kêu T đứng ngoài canh đường còn D đến hàng rào lưới B40 dùng tay vạch lưới chui vào trong rồi đi đến vị trí hông xe ô tô tải mang biển kiểm soát 64C-043.20 đang đậu dùng tay tháo bình ắc quy hiệu GS100AMPE rồi đưa cho T bên ngoài giữ. Sau đó bị cáo tiếp tục đi đến hông xe ô tô tải biển kiểm soát 61C-126.47 đang đậu dùng tay tháo bình ắc quy hiệu DONGNAI N85 rồi trở ra bên ngoài đưa cho T giữ. Sau khi lấy trộm được hai bình ắc quy thì D điều khiển xe chở T đem hai bình ắc quy này đến tiệm ắc quy "Dung Phúc - Cứu hộ bình ắc quy" địa chỉ số C tổ K, ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long bán cho anh Nguyễn Trung P với giá 1.100.000 đồng rồi cùng mua ma túy chia nhau sử dụng.

Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày thì anh Nguyễn Ngọc L là quản lý nhà máy nước đá P phát hiện 02 xe ô tô tải mất hai bình ắc quy nên báo cho Công an Phường 8, thành phố Vĩnh Long.

Kết luận định giá tài sản số: 102/HĐĐG&TTHS ngày 29/11/2019 của Hội đồng định giá và Tố tụng hình sự thành phố Vĩnh Long xác định: Bình ắc quy hiệu GS100AMPE có giá trị 555.000 đồng và bình ắc quy hiệu DONGNAI N85 có giá trị là 465.000 đồng. Tổng giá trị hai bình ắc quy có giá trị 1.020.000 đồng.

Tại cáo trạng số: 43/CT-VKSTPVL ngày 20/4/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như cáo trạng đã nêu và khẳng định việc truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 56 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu D mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Tổng hợp với phần hình phạt 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số: 81/2019/HS-ST ngày 30/11/2019 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ. Buộc bị cáo Nguyễn Hữu D phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là từ 04 năm 09 tháng đến 05 năm 03 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại giá trị tài sản bình ắc quy hiệu DONGNAI N85 và yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường giá trị bình ắc quy hiệu GS100AMPE là 555.000 đồng, bị cáo cũng đồng ý bồi thường, xét bị cáo và bị hại đã thỏa thuận được mức bồi thường đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với anh Nguyễn Trung P do không biết hai bình ắc quy hiệu GS100 AMPE và bình ắc quy hiệu DONGNAI N85 là tài sản do bị cáo D trộm cắp mà có. Anh P yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 550.000 đồng là tiền mua bình ắc quy hiệu DONGNAI N85, bị cáo cũng đồng ý bồi thường, xét bị cáo và anh P đã thỏa thuận được mức bồi thường đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với xe mô tô 60F7-1517 bị cáo sử dụng làm phương tiện trộm cắp tài sản thì giao lại cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an thành phố Vĩnh Long tiếp tục xác minh và xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với người thanh niên tên T (không rõ họ tên địa chỉ) nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an thành phố Vĩnh Long không làm việc khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Hữu D nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Đại diện cho bị hại là anh Nguyễn Ngọc L xin vắng mặt tại phiên tòa nhưng xác định đã nhận lại bình ắc quy hiệu DONGNAI N85. Yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị bình ắc quy hiệu GS 100 AMPE là 555.000 đồng và yêu cầu xét xử bị cáo theo quy định pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Hữu D đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không tham gia tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vĩnh Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long và Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục và thời hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa Bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vĩnh Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long và Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hữu D khai nhận: Do không có tiền mua ma túy sử dụng nên đã đi tìm kiếm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khoảng 12 giờ ngày 12/10/2019 bị cáo điều khiển xe mô tô 60F7-1517 chở bạn tên T đến bên ngoài nhà máy nước đá P, ở Phường T, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long lợi dụng sơ hở không có ai trông coi bị cáo đã dùng tay vạch lưới chui vào trong hàng rào rồi đi đến vị trí 02 xe ô tô tải đang đậu trước sân lấy trộm 02 bình ắc quy gắn trên xe rồi trở ra bên ngoài cùng T mang đi bán cho anh Nguyễn Trung P được 1.100.000 đồng để cùng mua ma túy chia nhau sử dụng.

Kết luận định giá tài sản xác định: Bình ắc quy hiệu GS 100 AMPE có giá trị 555.000 đồng và bình ắc quy hiệu DONGNAI N85 có giá trị là 465.000 đồng. Tổng giá trị hai bình ắc quy có giá trị 1.020.000 đồng. Tuy giá trị tài sản bị cáo trộm cắp dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo đang có tiền án về tội "Trộm cắp tài sản" khi chưa được xóa án tích thì bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo thỏa mãn yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tác động xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân trong việc giữ gìn, quản lý tài sản. Bị cáo là thanh niên có sức khỏe, nhưng không chịu lao động, chỉ vì muốn có tiền để sử dụng ma túy mà bị cáo cố tình chiếm đoạt thành quả lao động của người khác để thỏa mãn cho nhu cầu bản thân. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ.

Bị cáo là người có nhân thân xấu thể hiện là bị cáo đã có 02 tiền án về tội "Trộm cắp tài sản" vào năm 2019 nhưng bị cáo không thấy được sai lầm của mình để sửa chữa trong thời gian chờ đi chấp hành án bị cáo lại tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức xem thường pháp luật của bị cáo. Do đó cần thiết phải có hình phạt tù thật nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt và cũng nhằm răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải; bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn và một phần tài sản đã được thu hồi trả cho bị hại, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại giá trị tài sản bình ắc quy hiệu DONGNAI N85 và yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường giá trị bình ắc quy hiệu GS100AMPE là 555.000 đồng, bị cáo cũng đồng ý bồi thường, xét bị cáo và bị hại đã thỏa thuận được mức bồi thường nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Người liên quan anh Nguyễn Trung P do không biết hai bình ắc quy hiệu GS100AMPE và bình ắc quy hiệu DONGNAI N85 là tài sản do bị cáo D trộm cắp mà có. Anh P yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 550.000 đồng để mua bình ắc quy hiệu DONGNAI N85, bị cáo cũng đồng ý bồi thường, xét bị cáo và anh P đã thỏa thuận được mức bồi thường nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 60F7-1517 bị cáo Nguyễn Hữu D sử dụng làm phương tiện trộm cắp tài sản đã được Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an thành phố Vĩnh Long ủy thác điều tra nhưng chưa có kết quả nên giao lại cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an thành phố Vĩnh Long tiếp tục xác minh và xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với người thanh niên tên T không rõ họ tên địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an thành phố Vĩnh Long không làm việc khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s, h khoản 1 Điều 51; các Điều 38, 56 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Tổng hợp với phần hình phạt 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số: 81/2019/HS-ST ngày 30/11/2019 của Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ. Buộc bị cáo Nguyễn Hữu D phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án là 04 (bốn) năm 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 20/11/2019 nhưng được khấu trừ đi thời gian tạm giữ bị cáo từ ngày 23/11/2018 đến ngày 26/11/2018.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Hữu D bồi thường cho bị hại Dương Hữu P 555.000 đồng (năm trăm năm mươi lăm ngàn đồng).

Buộc bị cáo Nguyễn Hữu D bồi thường cho anh Nguyễn Trung P 550.000 đồng (năm trăm năm mươi ngàn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và danh mục kèm theo. Buộc bị cáo Nguyễn Hữu D nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ