vanban.org

Bản án 38/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Kiến An, TP. Hải Phòng Tuyên án 15/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Lê Thanh S 48 (bốn mươi tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 10-9-2020.

Vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy: Vỏ bao bi của các mẫu vật được niêm phong trong một bì thư được niêm phong số 591/2020/PC09 CATP Hải Phòng; 01 phong bì thư được gấp làm ba được niêm phong trong một phong bì thư; 01 bình thủy tinh; 01 ống tẩu thủy tinh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HSST Lê Thanh S - TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Thanh S 48 (bốn mươi tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 10-9-2020.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN K
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2020/HS-ST
Ngày: 15-12-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁNNHÂN DÂN QUẬN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Nhân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Lẫy

Ông Vũ Văn Hóa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận K tham gia phiên tòa: Bà Lương Quỳnh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2020/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1382/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:

Lê Thanh S, sinh ngày 09-6-1989; tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số 04/94 đường P, tổ 07, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do, trình độ văn hoá: 06/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh Th (đã chết) và bà Phạm Thị D, sinh năm 1966; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Ngày 27-4-2017, TAND quận K xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (Bản sán số: 18/2017/HSST), tiền sự: Ngày 15-7-2016, Công an phường N, Quận L, thành phố Hải Phòng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Quyết định xử phạt hành chính số: 18/QĐ-XPHC); bị tạm giữ ngày 10-9-2020, tạm giam ngày 14-9-2020; có mặt tại phiên tòa.

- Người tham gia tố tụng khác

Người làm chứng: Chị Lê Thị Thu T, vắng mặt.

Người chứng kiến: Bà Nguyễn Thị N và ông Đào Quang T, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 08/9/2020 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo S đi một mình sang khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng mua ma túy của một người đàn ông không quen biết với giá 700.000 đồng. Cụ thể người này đưa cho bị cáo S 02 phong bì thư được gấp làm ba, trong mỗi phong bì thư đều có 02 túi ma túy đá. Sau đó bị cáo S về nhà, bỏ 03 túi nilon chứa ma túy ra và cất vào hộp sắt ở đầu giường, còn 01 túi ma túy đá bị cáo S lấy ra sử dụng một ít, số ma túy còn lại bị cáo S cất lại vào trong phong bì thư gấp làm ba sau đó để vào túi quần bên trái phía trước bị cáo S đang mặc. Đến khoảng 10 giờ sáng ngày 09/9/2020 bạn gái bị cáo S là Lê Thị Thu T đến nhà bị cáo chơi. Đến khoảng 20 giờ 40 phút thì Lê Thị Thu T và bị cáo S rủ nhau ra ngoài đầu đường mua nước uống. Bị cáo S đi trước còn Lê Thị Thu T khóa cổng đi sau. Khi ra đến gần đầu ngõ, bị cáo S chợt nhớ có để trong túi quần bên trái phía trước bị cáo S đang mặc 01 phong bì thư có chứa gói ma túy nêu trên. Do sợ bị mọi người biết và phát hiện để ma túy trong người nên bị cáo S đã lấy phong bì có chứa túi ma túy nói trên ra và để lên mép bờ tường bao số nhà 94 đường P rồi ra đường đứng cách chỗ bị cáo S để ma túy 02m để chờ Lê Thị Thu T. Khi Lê Thị Thu T đến gần bị cáo S thì bị tổ công tác Công an quận K tiến hành kiểm tra và bắt giữ. Đồng thời Cơ quan CSĐT-CAQ K đã ra lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo S tại số 4/94 đường P, tổ 7, phường L, quận K, thành phố Hải Phòng.

Quá trình bắt giữ và khám xét, Công an quận K đã thu giữ:

- Thu trên mép bờ tường số nhà 94 đường P có 01 phong bì thư bên trong có 01 túi nilon kích thước 3x2cm có khóa mép nhựa màu trắng, viền mép túi màu đỏ miệng cắt vát hai đầu bên trong chứa tinh thể màu trắng.

- Thu trên đầu giường ngủ của bị cáo S 01 hộp giấy kích thước 14x6x10cm, bên trong hộp giấy có: 01 túi vải kích thước 9x6,5cm có khóa kéo bằng nhựa, bên trong túi vải này có 01 túi nilon kích thước 6,5x4cm mép khóa nhựa màu trắng, viền trên cùng một mặt màu cam, bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 hộp nhựa màu xanh kích thước 6x4,5cm bên trong có 02 túi nilon kích thước 2x2cm mép khóa nhựa màu trắng được cắt vát hai đầu bên trong chứa tinh thể màu trắng.

- Thu tại mặt giường 01 bình thủy tinh hình trụ, đường kính đáy khoảng 07cm, cao khoảng 10cm có nắp được đục 02 lỗ, một cắm tẩu thủy tinh dài khoảng 13cm, một lỗ được cắm ống hút màu trắng dài khoảng 63cm, bên trong bình thủy tinh chứa chất lỏng không màu, trong tẩu thủy tinh có bám dính tạp chất màu nâu.

- Thu tại mặt giường phía đầu một hộp sắt kích thước 10,5x9,5x2cm bên trong có 03 túi nilon kích thước 2,5x2,3cm mép khóa nhựa màu trắng, viền trên một mặt màu đỏ không chứa gì, 03 ống hút nhựa dài khoảng 08cm gồm 01 ống hút màu đen và 02 ống màu tím sọc trắng, 01 phong bì thư được gấp làm ba.

Tại Kết luận giám định của phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng số 591/KLGĐ-MT ngày 11/9/2020 kết luận:

- Tinh thể màu trắng của mẫu số 01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,56 gam, là loại Methamphetamine.

- Tinh thể màu trắng của mẫu số 02 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,41 gam, là loại Methamphetamine.

- Tạp chất màu nâu bám dính trong ống tẩu thủy tinh và chất lỏng trong bình thủy tinh của mẫu số 03 gửi giám định đều tìm thấy dấu vết chất ma túy, loại Methamphetamine. Không đủ điều kiện xác định khối lượng ma túy của mẫu số 03.

Tại biên bản xét nghiệm nhanh chất ma túy bằng test trong nước tiểu của Lê Thanh S kết quả “mẫu nước tiểu dương tính với test thử chất ma túy Methamphetamine”.

Tại bản Cáo trạng số: 42/CT-VKS ngày 26-11-2020 của Viện Kiểm sát nhân dân quận K, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Lê Thanh S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáovà đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 35; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Thanh S mức án từ 48-54 tháng tù; vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định và Vỏ bao bi của các mẫu vật được niêm phong trong một bì thư được niêm phong số 591/2020/PC09 CATP Hải Phòng; 01 phong bì thư được gấp làm ba được niêm phong trong một phong bì thư; 01 bình thủy tinh; 01 ống tẩu thủy tinh; 01 ống hút nhựa (sau khi sử lý mẫu giám định của Phòng PC09 CATP Hài Phòng) được niêm phong trong một phong bì giấy theo niêm phong số 591A/2020/PC09 của Phòng PC09 CATP Hài Phòng; 01 hộp giấy kích thước 14x6x10cm bên trong có: 01 túi vải kích thước 9x6,5cm có khóa kéo bằng nhựa; 01 hộp nhựa màu xanh kích thước 6x4,5cm; 01 hộp sắt kích thước 10,5x9,5x2cm trong có 03 túi nilon kích thước 2,2x2,3cm mép khóa nhựa màu trắng viền trên cùng một mặt màu đỏ, bên trong các túi nilon đều không chứa gì; 03 ống hút nhựa dài khoảng 08cm gồm 01 ống màu đen và 02 ống màu tím dọc trắng được niêm phong bằng dải niêm phong dán kín; hình phạt bổ sung: Phạt tiền từ 5.000.0000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với bị cáo theo quy định của pháp luật; bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như nội dung vụ án đã nêu trên, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, người chứng kiến, vật chứng vụ án, Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Thanh S có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý có trọng lượng 1,97gam ma túy loại Methamphetamine mục đích về sử dụng, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Nhân thân: Ngày 27-4-2017, TAND quận K xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (Bản sán số: 18/2017/HSST, chưa được xóa án tích), tiền sự: Ngày 15-7-2016, Công an phường Niệm Nghĩa, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Quyết định xử phạt hành chính số: 18/QĐ-XPHC, đã được xóa).

Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý mà còn xâm phạm trật tự trị an xã hội. Vì vậy cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian theo quy định của pháp luật.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự).

Tình tiết tăng nặng: Tại Bản sán số: 18/2017/HSST Ngày 27-4-2017, TAND quận K xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích, lần phạm tội này là tái phạm (điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự)

Vật chứng của vụ án: Vỏ bao bi của các mẫu vật được niêm phong trong một bì thư được niêm phong số 591/2020/PC09 CATP Hải Phòng; 01 phong bì thư được gấp làm ba được niêm phong trong một phong bì thư; 01 bình thủy tinh; 01 ống tẩu thủy tinh; 01 ống hút nhựa (sau khi sử lý mẫu giám định của Phòng PC09 CATP Hài Phòng) được niêm phong trong một phong bì giấy theo niêm phong số 591A/2020/PC09 của Phòng PC09 CATP Hài Phòng; 01 hộp giấy kích thước 14x6x10cm bên trong có: 01 túi vải kích thước 9x6,5cm có khóa kéo bằng nhựa; 01 hộp nhựa màu xanh kích thước 6x4,5cm; 01 hộp sắt kích thước 10,5x9,5x2cm trong có 03 túi nilon kích thước 2,2x2,3cm mép khóa nhựa màu trắng viền trên cùng một mặt màu đỏ, bên trong các túi nilon đều không chứa gì; 03 ống hút nhựa dài khoảng 08cm gồm 01 ống màu đen và 02 ống màu tím dọc trắng được niêm phong bằng dải niêm phong dán kín, bị cáo dùng vào việc sử dụng ma túy, vì vậy cần tịch thu tiêu hủy.

Hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự phạt tiền bị cáo 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).

Đối với Lê Thị Thu T, Lê Thị Thu T không biết và không liên quan đến việc bị cáo Lê Thanh S sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy, nên không xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Thị Thu T, Cơ quan CSĐT Công an quận K tách ra, tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo S tại khu vực đường tàu Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng vào ngày 08/9/2020 và đối tượng đã bán ma túy cho Lê Thị Thu T do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K tách ra tiếp tục làm rõ, xử lý sau.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo S, Công an quận K ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo khoản 1 Điểu 21 Nghị định 167 ngày 12-11-2013 của Chính phủ.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử phạt bị cáo Lê Thanh S 48 (bốn mươi tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 10-9-2020.

Vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: Vỏ bao bi của các mẫu vật được niêm phong trong một bì thư được niêm phong số 591/2020/PC09 CATP Hải Phòng; 01 phong bì thư được gấp làm ba được niêm phong trong một phong bì thư; 01 bình thủy tinh; 01 ống tẩu thủy tinh; 01 ống hút nhựa (sau khi sử lý mẫu giám định của Phòng PC09 CATP Hài Phòng) được niêm phong trong một phong bì giấy theo niêm phong số 591A/2020/PC09 của Phòng PC09 CATP Hài Phòng; 01 hộp giấy kích thước 14x6x10cm bên trong có: 01 túi vải kích thước 9x6,5cm có khóa kéo bằng nhựa; 01 hộp nhựa màu xanh kích thước 6x4,5cm; 01 hộp sắt kích thước 10,5x9,5x2cm trong có 03 túi nilon kích thước 2,2x2,3cm mép khóa nhựa màu trắng viền trên cùng một mặt màu đỏ, bên trong các túi nilon đều không chứa gì; 03 ống hút nhựa dài khoảng 08cm gồm 01 ống màu đen và 02 ống màu tím dọc trắng được niêm phong bằng dải niêm phong dán kín (theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27-11-2020).

Hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự phạt tiền bị cáo 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).

Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TANDTP Hải Phòng;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSNDTP Hải Phòng;

- VKSND quận K;

- Chi cục THADS quận K;

- Bị cáo;

- Những người tham gia tố tụng khác;

- Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận K;

- Cơ quan THAHS, Công an quận K;

- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

Sơn Thị Nhân

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:

Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:

(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên

Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).

(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).

(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.

(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán...,đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.

(6)ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên

của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).

(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tênKiểm sát viênthực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).

(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.

(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.

(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thânghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp thì ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi

đầy đủ họtên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự;nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.

(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.

(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].

(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhâncó liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:

Cỡ chữ