- Tranh chấp gì? án hình sự — "L trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh : Bị cáo Cù Như L, phạm tội “Trộm cắp t ài sản ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật h ình sự; Điều 136 Bộ Luật tố tụng h ình sự; Điều 173 Bộ luật h ình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H À TRUNG TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số : 38/2020/HS-ST Ngày: 09/7/2020 |
NHÂN DANH
NƯ ỚC CỘNG HO
À XÃ HỘ I CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phi ên toà: Ông Hoàng Ngọc Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Tống Văn Tuy ên
2. Bà Nguyễn Thị Ch
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Nhạn
- Thư k ý Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị H òa - Kiểm sát vi ên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2020, tại Tòa án nhân dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hoá, xét xử s ơ th ẩm công khai vụ án h ình sự sơ th ẩm thụ lý số 32/2020/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2020, theo Quyế t định đ ưa v ụ án ra xét xử số 37 /2020/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo :
Cù Như L, sinh năm 1997; Tại: xã H, huyện H , tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú : Thôn K, xã H, huyện H , tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: L ao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh ; Giới tính: Nam ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cù Như B và bà Lê Thị Th ; Chưa c ó vợ; Tiền sự : Không; Tiền án: 02, Ngày 10/6/2016 bị T òa án nhân dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “ Cư ỡng đoạt t ài sản”, n gày 04/02/2017 chấp h ành xong án phạt tù; Ngày 30/01/2018 bị T òa án nhân dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ”, ngày 03/7/2019 chấp h ành xong án phạt t ù. Bị bắt t ạm giữ từ ng ày 18/02/2020 đến ng ày 24/02/2020 chuyển tạm giam cho đến nay ; Có mặ t.
Bị hại: Anh Lê Ngọc C - Sinh năm 1983 (Vắng mặt)
Địa chỉ: T iểu khu 3, thị trấn H , huyện H , tỉnh Thanh Hóa.
Ngư ời có quyền lợi nghĩa vụ li
ên quan:
+ Anh Nguyễn Văn Đ - Sinh năm 1992 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn P, xã Y, huyệ n H, tỉnh Thanh Hóa.
+ Anh Phạm Văn Ch - Sinh năm 1983 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện H , tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s ơ v ụ án v à diễn biến tại phi ên tòa, nội dung vụ án đư ợc tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ng ày 28/01/2020 anh Lê Ngọc C sinh năm 1983 trú tại TK3, thị trấn H , huyện H điều khiển xe mô tô BKS 36B3 -030.47 hiệu Honda m àu đen-đỏ đến nh à ông Nguyễn Chí Th , trú tại TK1, thị trấn H à Trung, huyện H à Trung chơi. Anh C dựng xe mô tô ở góc sân gần với cổng ra v
ào nhà ông Th, rồi đi v ào bên trong nhà ông Th. Sau đó Cù Như L đi qua cổng nh à ông Th thấy xe mô tô của anh C dựng ở sân gần cổng, đầu xe h
ư ớng v ào trong nhà, đuôi xe quay ra ngoài đư ờng, ch ìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa xe v
à không có ngư ời trông coi n ên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe.
L đi vào sân nhà ông Th dắt l ùi chiếc xe mô tô của anh C ra đư ờng tr ư ớc cổng rồi đề xe nổ máy bỏ chạy. Ông
Th ngồi ở b àn uống n ư ớc trong nhà phát hiện có ng ư ời dắt xe của anh
C nên hô lên là có ngư ời lấy trộm xe, anh C chạy đuổi theo L nhưng không k ịp. L điều khiển xe theo h ư ớng QL217 rồi chạy về khu vực nghĩa trang thôn Ngh
è Đỏ, x ã Yến S ơn, huy ện H à Trung cất dấu xe mô tô trộm cắ p đư ợc trong một bụi rậm. Ba ng
ày sau L đến địa điểm cất dấu lấy xe mô tô đến nh à Nguyễn Văn Đ SN 1992 trú tại x ã Yến S ơn, huy ện H à Trung nói với Đ là xe của chị gái L và nhờ Đ cầm cố xe lấy tiền ti
êu xài cá nhân. Đ dẫn L đến nhà anh Hoàng Văn T, SN 1988 trú cùng xã để cầm cố chiếc xe nói tr
ên. Anh T đồng ý cho L vay 2.000.000 đồng c òn L để lại chiếc xe mô tô BKS 36B3 -030.47 để l àm tin, hẹn 3 đến 4 ng ày sau mang tiền đến chuộc lại xe. Đến hạn
Đ liên lạc với L không đư ợc, l o sợ anh T bán mất xe mô tô L cầm cố n ên Đ đi vay tiền trả cho anh T 2.300.000 đồng (cả tiền gốc v
à tiền cảm ơn) r ồi mang chiếc xe mô tô của L đến nh à anh Phạm Văn Ch, SN 1983 trú tại x ã Yến S ơn, huy ện H à Trung để vay anh Ch số tiền 5.2 00.000 đồng v à để chiếc xe mô tô BKS 36B3 -030.47 lại cho anh Ch làm tin. Số tiền 5.200.000 đồng vay của anh
Ch, Đ bù vào số tiền vay để trả cho anh T, số c òn lại Đ giữ để khi n ào liên lạc đ ư ợc với L sẽ b ù vào đưa cho L đến trả cho anh Ch và lấy xe về. Đến ngày 18/02/2020 nhận thấy h ành vi trộm cắp tài sản của m ình là vi phạm ph áp luật n ên L đã đến C ơ quan CSĐT Công an huy ện Hà Trung đầu thú v à khai nhận h ành vi phạm tội.
Tại bản kết luận định giá t ài sản ng ày 20/02/2020 Hội đồng đị nh giá tài sản trong Tố tụng h ình sự huyện H à Trung định giá chiếc xe mô tô BKS 36B3-03047 có giá trị l à 10.500.000đồng .
Tại bản cáo trạng số
40/CT-VKSHT ngày 01/6/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hoá đ ã truy tố Cù Như L về tội “T rộm cắp t ài sản ” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật h ình sự.
Tại phi ên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H
à Trung giữ nguy ên quyết đ ịnh truy tố v à đề nghị áp dụng : Điểm g k hoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật h ình sự, x ử phạt Cù Như L từ 30 tháng đến 36 tháng tù và không áp dụng h ình phạt bổ sung l à tiền đối với bị cáo.
Lời nói sau c ùng: Bị cáo biết h ành vi phạm tội của m
ình là vi phạm phát luật, n ên đề nghị xem xét giảm nhẹ h
ình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA T
ÒA ÁN:
Trên cơ s ở nội dung vụ án, căn cứ v
ào các tài liệu trong hồ s ơ v ụ án đ ã đư ợc tranh tụng tại phi ên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh
ư sau:
[1]. Về h ành vi, quyết địn h tố tụng của C
ơ quan đi ều tra huyện H à Trung, Điều tra vi ên; Viện Kiểm sát huyện H à Trung, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, tr ình tự thủ tục
và thời gian theo quy định của Bộ luật tố tụng h
ình sự . Quá trình điều tra , truy tố và tại phi ên tòa, bị cáo và những ng ư ời tham gia tố tụng
không có ý kiến hoặc k hiếu nại về h ành vi, quyết định của C ơ quan ti ến h ành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của
Cơ quan ti ến h ành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng đ ã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về h ành vi phạm tội của bị cáo: Tại phi
ên tòa, bị cáo Cù Như L đã thành khẩn khai nhận to àn bộ h ành vi phạm tội của m
ình đúng như cáo tr ạng Viện kiểm sát truy tố . Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với lời khai của
bị hại , ngư ời li ên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ s
ơ v ụ án là hoàn toàn phù hợ p; Hội đồng xét xử có đủ c ơ s ở kết luận : Khoảng 14 giờ ng ày 28/01/2020 tại nh à ông Nguyễn Chí Th ở TK1, thị trấn H à Trung, huyện H à Trung, tỉnh Thanh Hóa, C ù Như L đã lợi dụng s ơ h ở v à lén lút thực hiện h ành vi trộm cắp 01 xe mô t ô BKS36B3-030.47 hiệu Honda m àu đen-đỏ trị giá 10.500.000đồng của anh L
ê Ngọc C cầm cố để lấy tiền ti
êu xài cá nhân. Như v ậy h ành của bị cáo đ ã phạm v ào tội “Trộm cắp t
ài sản”.
[3]. Về tính chất, mức độ nghi
êm trọng của h ành vi phạm tội :
Quyền sở hữu
tài sản luôn đ ư ợc pháp luật bảo vệ nh
ưng L đã không bỏ sức lao động chân chính để có đ ư ợc, lợi dụng
sơ h ở, không cso ng ư ời trông coi đã lén lút trộm cắp chiếc xe mô tô nhằm cầm cố lấy tiền ti êu xài cá nhân. Hành vi trộm cắp t ài sản của bị cáo l à nguy hiểm, táo tợn, gây hoang mang tâm lý trong nhân dân và gây mất trật tự x
ã hội n ên cần phải đ ư ợc xử lý nghi êm nhằm răn đe, giáo dục v à phòng ngừa Ch.
[4]. Về nhân thân và tình tiết tăng nặng , giảm nhẹ trách nhiệm h ình sự:
Bị cáo không phải chịu t ình tiết tăng nặng trách nhiệm h ình sự n ào. Bởi đ ã đư ợc xác định t ình tiết định khung h ình phạt. Nh ưng bị cáo đ ã bị 02 lần xét xử mới ra trại ch ưa đư ợc xóa án tích. Đây thể hiện sự xem th
ư ờng pháp luật, không chịu làm ăn lương thi ện. Do vậy cần xem xét khi quyết đ
ịnh h ình phạt.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra v à tại phi ên tòa, bị cáo đ ã thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội đ ã ra đầu thú . Nên cần áp dụng điểm
s khoản 1 v à khoản 2 Điều 51 của B ộ luật h ình sự để giảm nhẹ một phần h
ình phạt cho bị cáo để bị cáo t hấy đ ư ợc sự khoan hồng của pháp luật.
Căn cứ v ào hành vi phạm tội v à nhân thân của bị cáo cần phải xử cách ly
L ra khỏi cộng đồng x
ã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục l
à cần thiết.
Đối với anh Nguyễn Văn
Đ nhận lời dẫn
L đi đến nh à anh Hoàng Văn T để cầm cố chiếc xe mô tô BKS 36B3 -030.47 hiệu Honda m àu đen-đỏ, v ì L nói là xe của chị gái L nên anh Đ và anh T không biết đó l à chiếc xe do L trộm cắp đ ư ợc, v ì vậy không có căn cứ để xử lý anh
Đ và anh T về h ành vi chứa chấp ho ặc ti êu thụ tài sản do ng ư ời khác phạm tội m
à có. Sau khi biết r õ nội dung vụ việc anh
T đã tự nguyện trả lại số tiền 300.000 đồng m
à anh Đ đưa cho T trư ớc đó. Anh Đ không yêu cầu L phải trả lại số tiền 2
.000.000 đồng m à anh vay trả cho anh T để chuộc xe của L.
Đối với anh Phạm Văn
Ch khi nhận cầm cố chiếc xe mô tô BKS 36B3
-030.47 hiệu Honda m àu đen-đỏ, do Đ nói là xe của chị gái Đ nên anh Ch không biết r õ nguồn gốc chiếc xe l
à do L trộm cắp đ ư ợc m à có nên không có căn cứ xử lý hình sự đối với anh
Ch. Khi biết chiếc xe mô tô l à vật chứng của vụ trộm cắp t
ài sản anh Ch đã giao nộp lại cho c ơ quan CSĐT Công an huy ện H à Trung để phục vụ cho quá tr ình giải quyết vụ án. Số tiền 5.200.000 đồng anh
Đ vay của anh Ch và để l ại chiếc xe L trộm cắp đ ư ợc l àm tin, anh Ch và anh Đ đề nghị hai b ên tự thỏa thuận giải quyết với nhau.
[5]. Về h ình phạt bổ sung: Theo quy định của pháp luật bị cáo có thể bị áp dụng h ình phạt bổ sung l à phạt tiền . Tuy nhiên theo các tài liệu chứ ng cứ v à lời khai của bị cáo tại phi ên tòa đều cho thấy, bị cáo l à lao động tự do, không có thu nhập , không có tài sản ri êng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự và vật chứng :
Đối với chiếc xe mô tô BKS 36B3 -030.47 hiệu Honda m àu đen-đỏ qua xác minh là xe của anh L ê Ngọc C nên Cơ quan CSĐT Công an huy ện H à Trung đã trả lại cho anh C. Sau khi nhận lại chiếc xe anh C không có yêu cầu, đề nghị gì. Nên Hội đồng x ét xử không xem xét.
Đối với số tiền
số tiền 2. 000.000đồng m à anh Đ vay trả cho anh T để chuộc xe của L. Anh Đ không yêu cầu L trả lại cho anh, xét thấy đây l à sự tự nguyện của anh nên cần chấp nhận.
Đối với anh Phạm Văn
Ch khi nhận cầm cố
chiếc xe mô tô BKS 36B3 - 030.47 của Đ với số tiền 5.200.000đồng, anh
Đ và anh Ch đề nghị hai b ên tự thỏa thuận giải quyết với nhau. N
ên miễn xét.
[7]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ th ẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ tr ên,
QUYẾT ĐỊNH :
Căn cứ v ào: Điểm g khoản 2 Điều 173 ; điểm s khoản 1 , khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật h
ình sự.
- Về tội danh : Bị cáo Cù Như L, phạm tội “Trộm cắp t ài sản ”.
- Về mức h ình phạt: Xử phạt b ị cáo Cù Như L: 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp h ành hình phạt t ù tính từ ng ày tạm giữ: 18 /02/2020.
- Về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng h
ình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng
ày 30/12/2016 của Ủy ban th ư ờng vụ Quốc Hội, buộc bị cáo
Cù Như L phải c hịu 200.000đồng án phí h ình sự s ơ th ẩm.
Trư ờng hợp bản án đ ư ợc thi h ành theo Điều 2 Luật thi h ành án dân sự th ì ngư ời phải thi h ành án dân sự có quyền y êu cầu thi h ành án, tự nguyện thi h ành án hoặc bị c ư ỡng chế thi h ành án theo quy định tại các điều 6, 7
và 9 Luật thi h ành án dân sự. Thời hiệu thi h
ành án đư ợc thực hiện theo điều 30 Luật thi h
ành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, ng ư ời có quyền lợi nghĩa vụ li
ên quan có quyền kháng cáo bản án n ày trong hạn 15 ng ày, đối với L kể từ ng ày tuyên án, đối với anh C, anh Đ và anh Ch kể từ ng ày nhận đ ư ợc bản án hoặc ni êm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa ; - VKSND huyện H à Trung; - Công an huyện H à Trung; - Thi hành án HS; dân sự ; - Bị cáo ; bị hại; ng ư ời li ên quan; - Lưu h ồ s ơ v ụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S Ơ TH ẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHI ÊN TÒA Hoàng Ngọc Tuấn |