- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn T cùng đồng bọn - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2020/HS-ST Ngày 27-11-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN LÃO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà V Th Thanh Vân.
Hội thẩm nhân dân:
Ông Đàm Công Du;
Bà Trần Th Thanh.
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hải Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Công Tài - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2020/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2020 theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 183/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2020 đối với các b cáo:
1. Hoàng Văn T, sinh ngày 05 tháng 11 năm 1983 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số T, tổ dân phố H, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T’ và bà Phạm Th H (đã chết); b cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 40/2007/HSST ngày 31 tháng 8 năm 2007, Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xử phạt Hoàng Văn T 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích); b cáo ra đầu thú và b tạm giữ từ ngày 04 tháng 8 năm 2020 đến ngày 07 tháng 8 năm 2020 chuyển tạm giam; có mặt.
2. Hoàng Văn G, sinh ngày 08 tháng 02 năm 1984 tại Hải Phòng; ĐKHKTT: Thôn P, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Thôn T, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn K và bà Đặng Th N; b cáo có vợ là Ngô Th K’ và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; b bắt theo lệnh truy nã và b tạm giữ từ ngày 28 tháng 7 năm 2020 đến ngày 31 tháng 7 năm 2020 chuyển tạm giam; có mặt.
3. Đỗ Xuân S, sinh ngày 01 tháng 10 năm 1983 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn K, xã M, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc t ch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn D và bà Phùng Th H (đã chết); b cáo có vợ là V Th N và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; b bắt theo lệnh truy nã và b tạm giữ từ ngày 28 tháng 7 năm 2020 đến ngày 31 tháng 7 năm 2020 chuyển tạm giam; có mặt.
Bị hại: Nhà thờ họ P; đ a chỉ: Thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; người đại diện hợp pháp cho b hại: Ông P Văn Kh, sinh năm 1961; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người làm chứng: Các ông Phùng Văn N, Hoàng Văn T, Phùng Văn V; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lưu Đình Đ, Hoàng Văn G, Đỗ Xuân S và Hoàng Văn T là bạn cùng chơi với nhau, đều là đối tượng nghiện, sử dụng chất ma túy. Do biết nhà thờ họ P ở thôn N, xã T, huyện A có trồng cây mộc hương nên Đ đã rủ G, S, T cùng đi trộm cắp cây.
Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 20/5/2020, các đối tượng tập trung tại nhà Hoàng Văn T ở đường T, tổ dân phố H, phường T, quận K. Đỗ Xuân S lấy xe môtô YAMAHA Sirius màu trắng dựng ở nhà T (trên xe có để sẵn 01 thuổng kim loại) chở G và T đi đến nhà thờ họ P. T đứng ngoài cảnh giới còn G và S đi vào trong Nhà thờ qua ô hở giữa tường bao được che tạm bằng các thanh gỗ. G và S thay nhau đào 03 cây mộc hương được trồng ở dọc chân tường bao rồi mang ra ngoài. Sau đó cả ba chở đến khu vực cánh đồng cách Nhà thờ khoảng 01 km cất giấu rồi quay lại nhà thờ họ P tiếp tục đào 01 cây mộc hương có ba nhánh nhỏ được trồng ở trước cửa gian thờ chính rồi khiêng ra ngoài. Sau đó cả ba người chở cây đến nơi giấu 03 cây mộc hương từ trước. Tại đây, G ở lại trông cây còn S chở T ôm cây mộc hương to về nhà T cất giấu. Đỗ Xuân S kêu mệt nên ở nhà, Điệp đi thay, T và Điệp mỗi người đi 01 xe máy đến chỗ G. Khi đến nơi, G và Điệp khiêng 03 cây mộc hương nhỏ lên xe T. G điều khiển xe Sirius màu trắng chở T ngồi sau ôm cây, Điệp tự đi xe máy cùng về nhà T.
Tại Kết luận đ nh giá tài sản số 12/KL-ĐG ngày 26/5/2020 của Hội đồng đ nh giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện An Lão kết luận: “Tại thời điểm b trộm cắp, 01 cây mộc hương cao 3,2m, tán rộng 1,7m, đường kính gốc 14cm, có ba nhánh nhỏ, tr giá 7.500.000 đồng; 03 cây mộc hương cao 01m, tán rộng khoảng 50cm, đường kính gốc khoảng 02cm, tr giá 3.000.000 đồng. Tổng số tiền của tài sản trên là 10.500.000 đồng” .
Tại bản Cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 23 tháng 10 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng truy tố các b cáo Hoàng Văn T, Hoàng Văn G, Đỗ Xuân S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các b cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của nhà thờ họ Phùng như nội dung Cáo trạng.
Trong lời luận tội, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các b cáo như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề ngh : Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 (b cáo G, S được áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51; b cáo T được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51); Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Hoàng Văn T từ 27 đến 30 tháng tù.
Hoàng Văn G, Đỗ Xuân S mỗi b cáo từ 21 đến 24 tháng tù
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các b cáo.
Về dân sự: Nhà thờ họ P đã nhận lại đầy đủ tài sản và không yêu cầu các b cáo bồi thường thêm nên không đề ngh giải quyết.
Về vật chứng: Đề ngh Hội đồng xét xử tuyên t ch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng đã thu giữ.
Các b cáo không tranh luận với Kiểm sát viên. Tại lời nói sau cùng các b cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận đ nh như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Lão, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đ nh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, b cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết đ nh của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết đ nh tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Tại phiên tòa, các b cáo Hoàng Văn T, Hoàng Văn G, Đỗ Xuân S thừa nhận khoảng 01 giờ 30 phút ngày 20 tháng 5 năm 2020, tại Nhà thờ họ P ở Thôn N, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng, lợi dụng sơ hở khi Nhà thờ họ P chưa làm cổng kiên cố, các b cáo đã lén lút vào trộm cắp, chiếm đoạt tài sản là 04 cây mộc hương tr giá 10.500.000 đồng của Nhà thờ họ Phùng.
Lời khai nhận tội của các b cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các b cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của b hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, phù hợp với kết luận đ nh giá, cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận hành vi của các b cáo Hoàng Văn T, Hoàng Văn G, Đỗ Xuân S phạm tội “Trộm cắp tài sản" theo Điều 173 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về tình tiết đ nh khung hình phạt: Tài sản b cáo trộm cắp tr giá 10.500.000 đồng nên các b cáo b xét xử theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tính chất vụ án tuy ít nghiêm trọng nhưng hành vi của các b cáo không những đã xâm phạm đến khách thể về quyền sở hữu tài sản của b hại mà còn gây mất trật tự tr an, an toàn xã hội ở đ a phương, gây tâm lý lo lắng cho quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xét xử nghiêm.
-Về hình phạt:
Xét vai trò của các b cáo: Trong vụ án này Lưu Đình Đ, Hoàng Văn G, Đỗ Xuân S đều biết Hoàng Văn T là người thích chơi cây cảnh nên Lưu Đình Đ đã khởi xướng, rủ rê các b cáo đi trộm cắp cây mộc hương, mục đích để mang về cho T trồng tại nhà và để được T trả công. Khi thực hiện hành vi trộm cắp b cáo G và S là người trực tiếp vào bên trong khuôn viên viên nhà thờ họ P để đào 04 cây mộc hương; b cáo T đứng bên ngoài cảnh giới, sau đó cùng nhau vận chuyển về nhà b cáo T cất giấu. Bản thân b cáo T đã tự trồng 03 cây mộc hương trộm cắp được xuống vườn của gia đình nhà b cáo. Vì vậy, đánh giá vai trò của b cáo G và b cáo S là ngang nhau và thấp hơn b cáo T.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các b cáo không phải ch u tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các b cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy đ nh tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. B cáo Hoàng Văn G, Đỗ Xuân S phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. B cáo Hoàng Văn T sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa các b cáo khai trong quá trình điều tra các b cáo không bỏ trốn mà vẫn có mặt tại đ a phương. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu xác minh tại gia đình các b cáo và chính quyền đ a phương thể hiện sau khi hành vi trộm cắp b phát hiện các b cáo đã không có mặt tại đ a phương, các b cáo đi đâu, làm gì gia đình, đ a phương không nắm được, cơ quan điều tra đã triệu tập nhiều lần nhưng các b cáo không đến làm việc. Vì vậy, cơ quan điều tra đã ra quyết đ nh truy nã đối với các b cáo là đúng quy đ nh của pháp luật.
Mặc dù b cáo không có tình tiết tăng nặng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, nhưng xét sau khi phạm tội các b cáo bỏ trốn, gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử; bản thân các b cáo là đối tượng nghiện ma túy; b cáo Hoàng Văn T nhân thân có 01 tiền án, mặc dù đã được xóa án tích nhưng vẫn b coi là người có nhân thân không tốt nên cần phải cách ly các b cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục các b cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Do các b cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp ổn đ nh, là đối tượng nghiện ma túy nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các b cáo.
Về dân sự: Tại phiên tòa hôm nay người đại diện hợp pháp cho b hại vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và xác nhận nhà thờ họ Phùng đã nhận lại đầy đủ số tài sản b mất, không yêu cầu các b cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 quần soóc bò màu xanh dài 54cm, phía sau cạp quần có mác in chữ “Jean For Men”, 01 đôi dép xỏ ngón màu đen in chữ “Just Do It” trên quai và chữ “NIKE” trên đế dép. Đây là chiếc quần và đôi dép b cáo G dùng khi đi trộm cắp tài sản, tại phiên tòa b cáo đề ngh tiêu hủy. Xét thấy các vật chứng trên không còn giá tr sử dụng hoặc còn giá tr sử dụng nhưng không đáng kể nên cần t ch thu tiêu hủy.
Về án phí: Các b cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy đ nh của pháp luật.
Đối với Lưu Đình Đ đã b Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện An Lão ra Quyết đ nh truy nã số 13 ngày 22/9/2020. Do chưa bắt được Đ nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết đ nh tách vụ án hình sự số 07 ngày 25 tháng 9 năm 2020 để điều tra, làm rõ sau là có căn cứ.
Đối với chiếc xe môtô YAMAHA Sirius màu trắng và thuổng kim loại được các b cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội đến nay cơ quan điều tra chưa xác đ nh được biển kiểm soát và do ai đang quản lý nên chưa thu hồi được. Đề ngh cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ để giải quyết theo quy đ nh của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Hoàng Văn T: 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Thời hạn tù tính từ ngày 04 tháng 8 năm 2020.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Hoàng Văn G: 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Thời hạn tù tính từ ngày 28 tháng 7 năm 2020.
Đỗ Xuân S: 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Thời hạn tù tính từ ngày 28 tháng 7 năm 2020.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên: T ch thu tiêu hủy 01 quần soóc bò màu xanh dài 54cm, phía sau cạp quần có mác in chữ “Jean For Men”, 01 đôi dép xỏ ngón màu đen in chữ “Just Do It” trên quai và chữ “NIKE” trên đế dép (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 10 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Lão, thành phố Hải Phòng).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 ngày 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các b cáo mỗi người phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các b cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. B hại (vắng mặt tại phiên tòa) được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy đ nh của pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân TP. Hải Phòng; - VKSND TP. Hải Phòng; - PV06 Công an TP. Hải Phòng; - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng; - Trại tạm giam CATP; - Công an huyện An Lão; Cơ quan THA hình sự CA huyện An Lão; - Viện kiểm sát nhân dân huyện An Lão; - Chi cục THADS huyện An Lão; - B cáo; b hại; - Lưu: HS, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thanh Vân |