- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Tươi ly hôn ông Đào Văn Phương"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Đào Văn P (tên gọi khác: Đào Văn T).
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2020/HNGĐ-ST Ngày 14-7-2020 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đỗ Văn Thư
2. Bà Nguyễn Thị Lợi
- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Trí Thắng, Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Lại Văn Quyền - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 85/2020/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2020 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2020, Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2020/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, nơi cư trú: Thôn K, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Đào Văn P (tên gọi khác: Đào Văn T), nơi cư trú: Thôn K, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện ngày 02 tháng 3 năm 2020 và quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà kết hôn với ông Đào Văn P trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã A, huyện A (nay là huyện A), thành phố Hải Phòng vào ngày 25 tháng 12 năm 1989. Sau khi kết hôn vợ chồng cư trú tại thôn K, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 3/1990 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do ông P uống rượu say chửi đánh vợ con, mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình và địa P hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên bà và ông P đã sống ly thân từ năm 2007 đến nay không ai còn quan tâm và có trách nhiệm với ai nữa. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể khắc phục được nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đào Văn P.
Về con chung: Bà và ông Đào Văn P có hai con chung là Đào Văn T1 sinh ngày 15 tháng 10 năm 1990 và Đào Văn T2 sinh ngày 20 tháng 02 năm 1993, hiện các con chung đã trưởng thành tự quyết định cuộc sống nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Đào Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không lý do và không có quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn đã vi phạm Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 47, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 của Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Đào Văn P. Về con chung: Các con Đào Văn T1 sinh ngày 15 tháng 10 năm 1990 và Đào Văn T2 sinh ngày 20 tháng 02 năm 1993 đã đủ 18 tuổi tự quyết định cuộc sống nên không xem xét giải quyết; Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn ông Đào Văn P đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của các đương sự, tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập, đủ cơ sở xác định: Bà Nguyễn Thị T và ông Đào Văn P kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện An Hải (nay là huyện An Dương), thành phố Hải Phòng vào ngày 25 tháng 12 năm 1989, theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra va chạm, cãi nhau. Xét thấy, tình trạng hôn nhân của bà T và ông P đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà T có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị T và ông Đào Văn P có hai con chung là Đào Văn T sinh ngày 15 tháng 10 năm 1990 và Đào Văn T2 sinh ngày 20 tháng 02 năm 1993. Hiện tại các con chung đã đủ 18 tuổi nên tự quyết định cuộc sống của mình.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông Đào Văn P không có quan điểm về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn pháp luật quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Đào Văn P (tên gọi khác: Đào Văn T).
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị T đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0012509 ngày 12 tháng 3 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện An Dương; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, T.P Hải Phòng; - UBND xã A, huyện A, T.P Hải Phòng; - Tòa án nhân dân T.P Hải Phòng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Liên |