vanban.org

Bản án 38/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị Cẩm T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị Cẩm T được ly hôn với anh Đinh Hoàn T. Giấy chứng nhận kết hôn số 57 ngày 09/6/2009 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị Cẩm T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 38/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 15/7/2020
V/v “Ly hôn, t/c về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Lâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hòa

2. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thanh Thúy – Là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn: Ông Phạm Văn Sơn – Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 459/2019/TLST-HNGĐ ngày 26/12/2019 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/6/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2020/QĐ-ST ngày 22/6/2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đào Thị Cẩm T, sinh năm 1988.

- Bị đơn: Anh Đinh Hoàn T, sinh năm 1984

Cùng địa chỉ: ấp Tây Bình A, xã Vĩnh Chánh, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Nguyên đơn chị T có mặt. Bị đơn anh T vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn chị Đào Thị Cẩm T trình bày:

Chị với anh Đinh Hoàn T chung sống với nhau từ năm 2008, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi cưới vợ chồng sống chung với gia đình chồng và cuộc sống ban đầu cũng hạnh phúc. Tuy nhiên đến năm 2014 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh T chơi đánh bạc, đá gà, cá độ gây ra nợ nần nhiều lần chị đã cho anh T cơ hội nhưng anh T vẫn không thay đổi. Nhận thấy tình cảm không còn, không thể hàn gắn lại được nên chị T yêu cầu giải quyết như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị Cẩm T xin được ly hôn với anh Đinh Hoàn T.

Về quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Đinh Thanh N sinh ngày 05/7/2009 và Đinh Ngọc T sinh ngày 02/4/2014. Sau ly hôn chị T yêu cầu được nuôi Ngọc T, đồng ý để anh T nuôi Thanh N, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa hôm nay chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Tại biên bản lấy lời khai ngày 27/5/2020 bị đơn anh Đinh Hoàn T trình bày: Anh với chị Đào Thị Cẩm T chung sống với nhau từ năm 2008, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc nhưng do sau này anh có lỡ vướng vào cờ bạc, lắc tài xỉu gây ra nợ nần. Để có tiền trả nợ anh qua Phú Quốc làm ăn nhưng đi được vài tháng thì vợ kêu về nhưng anh không đồng ý nên vợ giận nên đòi ly hôn. Vợ chồng cũng đã sống ly thân cuối năm 2019. Nay ý kiến của anh T như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Đồng ý ly hôn với chị Đào Thị Cẩm T.

Về con chung: Có 02 con chung tên Đinh Thanh N sinh ngày 05/7/2009 và Đinh Ngọc T sinh ngày 02/4/2014. Sau ly hôn anh T đồng ý nuôi Thanh N, đồng ý để chị T nuôi Ngọc T, không yêu cầu cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời hạn chuẩn bị xét xử:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm hiện tại, nhận thấy Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như: Xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý và giải quyết theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Qua trình thụ lý Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ khi tiến hành lập hồ sơ vụ án, thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tống đạt và niêm yết hợp lệ các thông báo và quyết định, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng theo quy định của pháp luật.

+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa:

Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xet xử sơ thẩm vụ án.

+ Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng nên đã từ bỏ quyền của mình.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T.

Về quan hệ hôn nhân: Chị T được ly hôn với anh T.

Về con chung: Giao cháu N cho anh T chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao cháu T cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T và chị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

Về án phí: Chị T yêu cầu ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1.1] Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn và nuôi con. Bị đơn anh Đinh Hoàn T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp T, xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn.

Bị đơn anh Đinh Hoàn T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

Về nội dung tranh chấp:

Chị Đào Thị Cẩm T và anh Đinh Hoàn T chung sống với nhau từ năm 2008 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 57 ngày 09/6/2009. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét yêu cầu của chị Đào Thị Cẩm T, thấy: Vợ chồng chị T và anh T đã sống ly thân từ tháng 7/2019 cho đến nay. Chị T trình bày rằng trong quá trình sống chung vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do anh T đánh bạc, đá gà, cá độ gây ra nợ nần chị đã nhiều lần cho anh T cơ hội nhưng anh T vẫn không thay đổi. Về phía anh T cũng thừa nhận việc anh chơi cờ bạc gây ra nợ nần và nay anh cũng đồng ý ly hôn tuy nhiên do bận đi làm ăn xa nên anh không thể có mặt tại Tòa án để giải quyết việc ly hôn với chị T. Hội đồng xét xử xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh T không còn, tình trạng hôn nhân mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đào Thị Cẩm T.

Về quan hệ con chung, thấy: Qua thu thập chứng cứ thì chị T và anh T có 02 con chung tên Đinh Thanh N sinh ngày 05/7/2009 và Đinh Ngọc T sinh ngày 02/4/2014. Sau ly hôn chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Ngọc T, đồng ý để anh T trực tiếp nuôi Thanh N. Tòa án cũng đã tiến hành lấy ý kiến cháu N và cháu N cũng mong muốn được tiếp tục sống với ba sau khi ba mẹ ly hôn, phía anh T cũng đồng ý sau ly hôn sẽ trực tiếp nuôi Thanh N, đồng ý để chị T nuôi Ngọc T. Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ áp dụng Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giao con chung Đinh Thanh N cho anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; giao con chung Đinh Ngọc T cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Chị T và anh T không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị Cẩm T.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đào Thị Cẩm T được ly hôn với anh Đinh Hoàn T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 57 ngày 09/6/2009 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

- Về quan hệ con chung:

Chị Đào Thị Cẩm T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Đinh Ngọc T sinh ngày 02/4/2014.

Anh Đinh Hoàn T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Đinh Thanh N sinh ngày 05/7/2009.

Chị T và anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị T và anh T phải tạo điều kiện cho nhau được quyền đến thăm nom con, không ai được ngăn cản.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hay việc cấp dưỡng nuôi con

- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Ghi nhận không có. Tuy nhiên sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị Đào Thị Cẩm T và anh Đinh Hoàn T phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

2. Về án phí: Chị Đào Thị Cẩm T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000674 ngày 26/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang nên đã nộp xong.

Chị Đào Thị Cẩm T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từu ngày tuyên án. Anh Đinh Hoàn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã (thị trấn) nơi cơ trú để yêu cầu xem xét phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ