vanban.org

Bản án 38/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lưu Thị Th và anh Vũ Văn T.

Về con chung: Giao chị Lưu Thị Th tiếp tục trực tiếp nuôi con chung là Vũ Phương T1, sinh ngày 18- 7- 2015 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành, có khả năng lao động tự lập được. Anh Vũ Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Th, nhưng anh T được quyền thăm nom con chung mà không…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án dân sự về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" giữa chị Lưu Thị Th và anh Vũ Văn T"
  • Tòa quyết gì? Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lưu Thị Th và anh Vũ Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIAO THỦY
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 24-6-2020
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thanh Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Hà Bắc.

Ông Nguyễn Ngọc Giao.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Lan Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuất - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 04 và ngày 24 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 22/2020/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lưu Thị Th, sinh năm 1987; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Đội 3, xóm Tiên Hưng, xã Giao Châu, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định; nơi tạm trú: Xóm 1, xã Giao Yến, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định“có mặt”

- Bị đơn: Anh Vũ Văn T, sinh năm 1985; địa chỉ: Đội 3, xóm Tiên Hưng, xã Giao Châu, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 03- 02- 2020 và các văn bản khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Lưu Thị Th trình bày: Chị và anh Vũ Văn T trước khi kết hôn tự nguyện tìm hiểu và đã được Uỷ ban nhân dân xã Giao Châu, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 23- 12- 2014. Sau đó, vợ chồng được hai bên gia đình tổ chức đám cưới cho vợ chồng. Sau cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được gần 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T sống vô tâm, không quan tâm tới con cái, chơi lô đề. Mặc dù, chị Th đã cho anh T cơ hội nhưng anh T không thay đổi.Vợ chồng đã sống ly thân kể từ ngày 27- 3- 2018 khi chị Th cho con chung về nhà bố mẹ đẻ ở xóm 1, xã Giao Yến để sinh sống cho đến nay, không bên nào còn quan tâm tới cuộc sống của nhau nữa. Nay chị xác định vợ chồng không thể đoàn tụ được nữa đề nghị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy giải quyết cho chị được ly hôn anh Vũ Văn T.

Tại phiên tòa bị đơn là anh Vũ Văn T trình bày: Anh và chị Lưu Thị Th kết hôn với nhau là hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã Giao Châu, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định vào ngày 23-12- 2014. Sau cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 02 năm, đến tháng 3 năm 2018, chị Th và con về nhà ngoại để ở vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, còn việc chị Th cho rằng anh không quan tâm đến con chung là không đúng, vì anh đi làm vẫn gửi tiền về để chị Th chăm lo cho con, chỉ có một thời gian anh bị tai nạn sức khỏe yếu nên thời gian đó anh không quan tâm tới con được. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã gửi giấy triệu tập và niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú cho anh, gia đình anh đều thông báo cho anh biết, nhưng vì lý do anh bận công việc đang làm tại Hà Nội nên anh không thể đến Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy để làm việc được. Chị Th đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh, anh nhất trí.

Về con chung: Chị Th và anh T đều trình bày vợ chồng có 01 con chung là Vũ Phương T1, sinh ngày 18- 7- 2015. Hiện nay, con chung chị Th đang nuôi. Ly hôn chị Th và anh T đều nhận nuôi con chung, các bên đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Về tài sản: Các đương sự đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh, thu thập chứng cứ ngày 10-3-2020 đại diện đoàn thể cũng như đại diện Ủy ban nhân dân xã Giao Châu, huyện Giao Thủy cung cấp: Chị Lưu Thị Th và anh Vũ Văn T tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn vào ngày 23- 12-2014 tại UBND xã Giao Châu. Sau đó, vợ chồng được hai bên gia đình tổ chức đám cưới. Vợ chồng sinh sống tại địa phương nhưng cuộc sống sinh hoạt và nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa vợ chồng, địa phương không nắm được vì cả hai đều là lao động tự do, đi làm ăn xa nhà. Nay chị Th xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa vợ chồng theo quy định của pháp luật. Vợ chồng có 01 con chung là Vũ Phương T1, sinh ngày 18-7- 2015, hiện nay con chung đang ở cùng chị Th và còn nhỏ, vì vậy, trường hợp vợ chồng ly hôn nên giao con chung cho chị Th nuôi dưỡng là phù hợp.Vợ chồng không nợ đối với tập thể.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về quan hệ hôn nhân giữa chị Th và anh T là hợp pháp, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng khả năng đoàn tụ không còn, nên có đủ cơ sở để giải quyết ly hôn. Về con chung, hiện do chị Th đang nuôi dưỡng, anh T làm nghề tự do đi làm ăn xa nhà, vì vậy nên giao con chung cho chị Th tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lưu Thị Th và anh Vũ Văn T đã tự nguyện tìm hiểu và đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Giao Châu, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định vào ngày 23- 12- 2014 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau ngày cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 02 năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh T sống vô tâm không quan tâm tới vợ, con.Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2018 cho đến nay. Hai bên đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể cùng chung sống với nhau được nữa. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Th và anh T đã trầm trọng, nếu kéo dài cũng không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt. Chị Th và anh T cùng thống nhất ly hôn. Vì vậy chấp nhận nguyện vọng ly hôn của chị Th và anh T là phù hợp với Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.

[2] Về con chung: Nguyện vọng của các đương sự đều nhận nuôi con, nhưng con chung hiện chị Th đang nuôi, cháu còn nhỏ và giới tính nữ, để đảm bảo sự ổn định cho việc nuôi dạy cũng như việc chăm sóc cho sự phát triển bình thường của cháu. Vì vậy giao con chung là Vũ Phương T1, sinh ngày 18- 7- 2015 cho chị Th tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành, có khả năng lao động tự lập được là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Th không yêu cầu nên anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Th, nhưng anh T được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[4] Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét điều chỉnh.

[5] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lưu Thị Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 55, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Lưu Thị Th và anh Vũ Văn T.

2. Về con chung: Giao chị Lưu Thị Th tiếp tục trực tiếp nuôi con chung là Vũ Phương T1, sinh ngày 18- 7- 2015 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành, có khả năng lao động tự lập được. Anh Vũ Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Th, nhưng anh T được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3.Về án phí: Chị Lưu Thị Th phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm là: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Th đã nộp theo biên lai thu số 0001195 ngày 11 tháng 02 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giao Thủy nay được chuyển thành án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Lưu Thị Th và anh Vũ Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ