- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Đặng Văn Tân - Nguyễn Thanh Đại"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Văn T
- Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2020/DS-ST Ngày: 11/9/2020 V/v:“tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Bích Khiếm.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Ngọc Cận.
2. Ông Hà Hữu Hiền.
Thƣ ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
Đ diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc - Kiểm sát viên.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 100/2020/TLST-DS ngày 08 tháng 6 năm 2020 về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2020/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:
1/. Nguyên đơn: Ông Đặng Văn T, sinh năm 1980 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp TS B2, xã MT, huyện MT, tỉnh Sóc Trăng.
2/. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh Đ, sinh năm 1983 (có mặt).
Địa chỉ: Số 526, hẻm 526 đường LTK, khóm M, phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 5 năm 2020, các chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên toà sơ thẩm nguyên đơn là ông Đặng Văn T trình bày:
Ông Đặng Văn T có cho ông Nguyễn Thanh Đ vay hai lần cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào ngày 13/3/2020, ông Đ vay số tiền 5.000.000 đồng, thỏa thuận trả lãi mỗi ngày 25.000 đồng, lãi suất 15%/tháng, ông Đ trả lãi được 825.000 đồng (tính từ ngày 13/3/2020 đến ngày 26/4/2020 là 33 ngày x 25.000 đồng = 825.000 đồng). Tiền lãi chưa trả là 700.000 đồng (tính từ ngày 27/4/2020 đến ngày 25/5/2020 là 28 ngày x 25.000 đồng = 700.000 đồng)
Lần thứ hai: Vào ngày 14/3/2020, ông Đ vay số tiền 3.000.000 đồng, thoả thuận trả lãi mỗi ngày 30.000 đồng, lãi suất 30%/tháng, ông Đ trả lãi được 960.000 đồng (tính từ ngày 14/3/2020 đến ngày 26/4/2020 là 32 ngày x 30.000 đồng = 960.000 đồng). Tiền lãi chưa trả là 840.000 đồng (tính từ ngày 27/4/2020 đến ngày 25/5/2020 là 28 ngày = 840.000 đồng)
Như vậy ông Nguyễn Thanh Đ đã trả được tiền lãi là 1.785.000 đồng và số tiền lãi chưa trả của hai lần vay 1.540.000 đồng
Tại phiên Tòa nguyên đơn ông Đặng Văn T thay đổi một phần yêu cầu, yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Nguyễn Thanh Đ trả số tiền vốn 8.000.000 đồng và tiền lãi yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Tại văn bản ý kiến ngày 13/8/2020 và tại phiên Tòa ông Nguyễn Thanh Đ trình bày:
Ông Nguyễn Thanh Đ thừa nhận có vay tiền của ông Đặng Văn T vào hai lần như ông T trình bày và nợ lại ông T số tiền vốn vay là 8.000.000 đồng, tiền lãi 1.540.000 đồng) và đồng ý trả số tiền vay và tiền lãi cho ông Đặng Văn T tổng hai lần là 9.540.000 đồng (trong đó tiền vốn 8.000.000 đồng và tiền lãi 1.540.000 đồng)
Nay tôi đang gặp khó khăn chỉ có khả năng trả mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi dứt nợ.
- Tại phiên tòa Kiểm sát viên Đ diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng trình bày ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa,Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Sau khi phân tích đánh giá chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và qua kết quả thẩm tra các chứng cứ, tranh tụng tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ông Đặng Văn T đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ gồm: Bản sao có chứng thực giấy chứng minh nhân dân tên Đặng Văn T và sổ hộ khẩu tên chủ hộ Đặng Văn T; Bản chính biên bản hòa giải cơ sở ngày 25/5/2020 tại ban nhân dân khóm 3, phường 4, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
Những tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Nguyễn Thanh Đ đã thừa nhận và không phản đối những tình tiết, sự kiện tài liệu mà ông Đặng Văn T đã trình bày và giao nộp cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1.1 Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn Nguyễn Thanh Đ trả tiền vay, bị đơn Nguyễn Thanh Đ có nơi cư trú Số 526, hẻm 526 đường Lý Thường Kiệt, khóm 3, phường 4, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng.
Về việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Khi Tòa án thụ lý vụ án đã xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp đòi lại tài sản”, trong quá trình giải quyết vụ án do nguyên đơn cho bị đơn vay tiền không kỳ hạn và có thỏa thuận lãi suất. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất xác định lại quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”; theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì mới chính xác và phù hợp với quy định của pháp luật.
[1.3] Tại phiên tòa ông Đặng Văn T thay đổi một phần yêu cầu đối với tiền lãi yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật. Xét thấy việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Văn T: Xét thấy ông Đặng Văn T có cho ông Nguyễn Thanh Đ vay hai lần vào các ngày sau: Ngày 13/3/2020, cho ông Đ vay số tiền 5.000.000 đồng, thỏa thuận trả lãi mỗi ngày 25.000 đồng, lãi suất 15%/tháng, ông Đ trả lãi được 825.000 đồng (tính từ ngày 13/3/2020 đến ngày 26/4/2020 là 33 ngày x 25.000 đồng = 825.000 đồng). Tiền lãi chưa trả là 700.000 đồng (tính từ ngày 27/4/2020 đến ngày 25/5/2020 là 28 ngày x 25.000 đồng = 700.000 đồng); Ngày 14/3/2020, ông Đ vay số tiền 3.000.000 đồng, thoả thuận trả lãi mỗi ngày 30.000 đồng, lãi suất 30%/tháng, ông Đ trả lãi được 960.000 đồng (tính từ ngày 14/3/2020 đến ngày 26/4/2020 là 32 ngày x 30.000 đồng = 960.000 đồng). Tiền lãi chưa trả là 840.000 đồng (tính từ ngày 27/4/2020 đến ngày 25/5/2020 là 28 ngày = 840.000 đồng).
Trong quá trình vay ông Nguyễn Thanh Đ không trả được vốn, chỉ trả được tiền lãi là 1.785.000 đồng và số tiền lãi chưa trả của hai lần vay 1.540.000 đồng cho đến nay.
Do ông Nguyễn Thanh Đ vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ông Đặng Văn T khởi kiện. Tại phiên Tòa ông Nguyễn Thanh Đ thừa nhận có vay tiền của ông Đặng Văn T hai lần vào các ngày sau: Ngày 13/3/2020, ông Đ vay số tiền 5.000.000 đồng; Ngày 14/3/2020, ông Đ vay số tiền 3.000.000 đồng. Tổng hai lần vay số tiền vốn là 8.000.000 đồng, ông Đ đồng ý trả số tiền vay cho ông Đặng Văn T. Nhưng hiện nay ông Đ đang gặp khó khăn chỉ có khả năng trả mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi dứt nợ, ông Đặng Văn T không đồng ý cho ông Đ trả 500.000 đồng mỗi tháng đến khi dứt nợ và yêu cầu ông Nguyễn Thanh Đ phải trả một lần cho ông số tiền vốn 8.000.000 đồng. Căn cứ vào Khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử, xét thấy bị đơn đã thừa nhận đây là trường hợp thuộc tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Văn T là có căn cứ nên chấp nhận. Buộc ông Nguyễn Thanh Đ có nghĩa vụ trả cho ông Đặng Văn T số tiền vốn là 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng)
Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn Nguyễn Thanh Đ trả số tiền lãi theo quy định của pháp luật với lãi suất 20%/năm. Xét thấy, đối với việc vay giữa ông Đặng Văn T và ông Nguyễn Thanh Đ thuộc trường hợp vay không kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản. Do nguyên đơn ông Đặng Văn T và bị đơn ông Nguyễn Thanh Đ có thỏa thuận lãi suất nhưng khi đến hạn trả nợ ông Đ không thực hiện việc trả nợ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 thì trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay. Do đó việc yêu cầu tính lãi của nguyên đơn Đặng Văn T được tính như sau: Số tiền vốn 5.000.000 đồng x 20%/năm x 28 ngày : 365 ngày = 76.712 đồng; Số tiền vốn 3.000.000 đồng x 20%/năm x 28 ngày : 365 ngày = 46.027 đồng. Tổng số tiền lãi của hai lần vay là 124.445 đồng. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với tiền lãi mà trong quá trình vay bị đơn ông Nguyễn Thanh Đ đã trả cho nguyên đơn ông Đặng Văn T. Tại phiên tòa bị đơn ông Đ không yêu cầu xem xét nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Từ những phân tích trên, đủ cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Văn T và đề nghị của Đ diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Thanh Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 400.000 đồng theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, , điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 271; khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 466, khoản 1 Điều 468, khoản 1 Điều 469 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Văn T
1/. Buộc ông Nguyễn Thanh Đ trả cho ông Đặng Văn T số tiền vốn là 8.000.000 đồng và tiền lãi 122.739 đồng. Tổng vốn và lãi 8.122.739 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
2/. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Đặng Văn T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0001935 ngày 27/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
- Ông Nguyễn Thanh Đ phải chịu là 400.000 đồng
3/. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung), thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung).
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND TP. Sóc Trăng; - Chi cục THADS TP. Sóc Trăng; - TAND T. Sóc Trăng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Lý Bích Khiếm |