- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn B, phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH YÊN BÁI Bản án số: 38/2019/HSST Ngày: 20-9-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thành Long
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Hoàng Đình Mùi;
+ Ông Hà Văn Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bắc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2019/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Văn B, tên gọi khác không, sinh năm 1954 tại huyện Kiến Xương, tỉnh Thái B; nơi cư trú thôn Chùa 1, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái; dân tộc kinh; Quốc tịch Việt Nam; tôn giáo không; trình độ học vấn lớp 0/10; nghề nghiệp trồng trọt; con ông Hoàng Văn Ng, (Đã chết) và bà Lê Thị T, sinh năm 1932; có vợ là Bùi Thị V, sinh năm 1962 và có 03 con, con lớn sinh năm 1982, con nhỏ sinh năm 1990 cùng trú tại thôn Chùa 1, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái; tiền án, tiền sự không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12-6-2019, tạm giam từ ngày 13-6-2019 “Có mặt”.
- Người có quyền lợi liên quan:
+ Bà Bùi Thị V, sinh năm 1962; nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái; “Có mặt”.
+ Anh Trần Mạnh D, sinh năm 1985; nơi cư trú: Khu 2, xã Cát T, huyện V, tỉnh Yên Bái; “Vắng mặt”.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1981; nơi cư trú: Tổ dân phố T, TTNT Tr, huyện V, tỉnh Yên Bái; “Vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 10-6-2019, Hoàng Văn B từ nhà đi đến khu vực cây xăng Dốc Đỏ, thị xã N, B mua của một người nam giới dân tộc Mông 01 gói Heroine với giá 2.000.000 đồng mang về nhà chia thành 50 gói nhỏ để sử dụng và bán cho các đối tượng nghiện ma túy khác, B đã sử dụng hết 04 gói còn 46 gói B chia thành 2 phần gói bằng túi nilon, 01 phần 24 gói B cất trong người, 01 phần có 22 gói B giấu trong tủ thuốc của gia đình. Khoảng 06 giờ ngày 12-6-2019 B mang theo túi nilon màu đỏ bên trong có 24 gói Heroine đi xe mô tô vào Trung tâm Y tế huyện V để uống methadol, khi đến trước cửa quán ăn sáng Th ở thôn N, xã C, huyện V thì gặp Trần Mạnh D và Nguyễn Văn T, D hỏi mua 02 gói Heroine, B bán cho D 2 gói Heroine với giá 200.000 đồng thì bị Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra điều tra tội phạm về Kinh tế- ma túy Công an huyện V phát hiện và bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên trái của B đang mặc 01 gói nilon màu đỏ, bên trong có chứa 22 gói giấy màu trắng có chứa chất bột nén màu trắng nghi là Heroine, thu trong túi áo bên trái phía trước 01 tờ tiền có chữ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có mệnh giá là 200.000 đồng, tại túi quần bên phải 01 điện thoại di động bàn phím nổi có chữ NOKIA; tại túi quần phía sau 01 ví giả da màu nâu bên trong có một chứng minh nhân dân; 01 giấy phép lái xe mang tên Hoàng Văn B; 01 đăng ký xe mô tô mang tên Trần Thanh H, 01 xe mô tô màu trắng bạc BKS 29Y3-1948 nhãn hiệu HONDA. Kiểm tra người của Trần Mạnh D thu giữ trong lòng bàn tay trái của D 02 gói giấy bên trong có chất bột nén màu trắng nghi là Heroin, thu bên trong túi quần phía sau D đang mặc 01 tờ tiền có chữ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có mệnh giá 100.000 đồng.
Vào 09 giờ 00 phút ngày 12-6-2019 Công an huyện V tiến hành khám xét nơi ở của Hoàng Văn B tại thôn C, xã C, huyện V, thu giữ 01 gói nilon màu hồng bên trong có 22 gói giấy nhiều màu có chữ bên trong các gói giấy này đều có chứa chất bột nén màu trắng nghi là Heroine.
Tại Bản kết luận giám định số 138/GĐMT ngày 21/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận:
- Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Hoàng Văn B có tổng khối lượng là 1,14 gam (một phẩy mười bốn gam); 0,14 gam trích từ 1,14 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.
- Chất bột nén màu trắng thu giữ khi khám xét nơi ở của Hoàng Văn B có tổng khối lượng là 1,61 gam (một phẩy sáu mốt gam); 0,11 gam trích từ 1,61 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.
- Chất bột nén màu trắng thu giữ của Trần Mạnh D có tổng khối lượng là 0,05 gam (không phẩy không năm gam); 0,05 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine, Không hoàn lại đối tượng giám định (BL 38)
* Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Bản kết luận giám định nêu trên.
- Cáo trạng số: 41/CT- VKS - VC ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái, truy tố bị cáo Hoàng Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 251 của Bộ luật Hình sự.
* Bị cáo không khiếu nại Cáo trạng và quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân HUYỆN V, tỉnh Yên Bái.
* Tại phiên tòa: Bị cáo Hoàng Văn B khai nhận rõ ràng, đầy đủ về hành vi phạm tội của mình và vật chứng cũng như tài sản tạm giữ, thu giữ nêu trên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Mạnh D có lời khai tại cơ quan điều tra trình bày đã dùng 200.000đồng mua của bị cáo B 02 gói Heroine, trong đó mua hộ Nguyễn Văn T 01 gói chưa kịp đưa cho T thì bị bắt, khi bị bắt còn bị thu giữ 100.000 đồng.
Người làm chứng Nguyễn Văn T tại cơ quan điều tra trình bày trình bày sáng ngày 12-6-2019 đã đưa cho Trần Mạnh D 100.000 đồng nhờ mua hộ 01 gói Heroine, khi D vừa mua 200.000 đồng 02 gói Heroine của B thì bị Công an bắt quả tang.
Người có quyền lợi liên quan Bùi Thị V trình bày chiếc xe mô tô màu trắng bạc BKS 29Y3-1948 nhãn hiệu HONDA xe cũ là tài sản của cả gia đình, bà V là người trực tiếp mua, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội gia đình không biết, bà V xin được nhận lại chiếc xe để gia đình sử dụng.
- Kiểm sát viên trình bày luận tội đã đánh giá về tính chất, mức độ, nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là “Người phạm tội thành khẩn khai báo”. Đồng thời giữ nguyên nội dung cáo trạng và quyết định truy tố bị cáo Hoàng Văn B được nêu trong Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn B phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn B từ 03 năm đến 04 năm tù. Không Căn cứhình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ trong vụ án: Căn cứ vào khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 04 vỏ phong bì thư đã mở niêm phong + giấy gói + nilon gói và 2,5 gam (hai phẩy năm gam) ma túy, loại Heroine.
- Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước Số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) Hoàng Văn B đã bán ma túy cho Trần Mạnh D.
Trả cho Hoàng Văn B 01 điện thoại di động bàn phím nổi có chữ NOKIA; 01 ví giả da màu nâu đã cũ, 01 chứng minh nhân dân mang tên Hoàng Văn B; 01 giấy phép lái xe mang tên Hoàng Văn B.
- Trả lại Trần Mạnh D số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng).
Trả lại cho bà Bùi Thị V 01 đăng ký xe mô tô mang tên Trần Thanh H, 01 xe mô tô màu trắng bạc BKS 29Y3-1948 nhãn hiệu HONDA xe cũ.
+ Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
- Bị cáo B không có ý kiến tranh luận đối đáp gì với Kiểm sát viên về tội danh, mức hình phạt, xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ trong vụ án.
- Bị cáo nói lời sau: Đề nghị HĐXX xem xét giảm hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an HUYỆN V, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo Hoàng Văn B tại phiên tòa phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang,vật chứng thu giữ được và Kết luận giám định ma túy; Phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó đã có cơ sở kết luận: Hồi 06 giờ 30 phút ngày 12-6-2019, trước cửa quán ăn sáng Thanh Nga tại thôn N, xã C, huyện V, Hoàng Văn B có hành vi bán trái phép cho Trần Mạnh D 02 gói Heroine với giá 200.000 đồng thì bị Tổ công tác Đội cảnh sát điều tra điều tra tội phạm về Kinh tế- ma túy Công an huyện V bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên trái của Hoàng Văn B đang mặc 01 gói nilon màu đỏ, bên trong có chứa 22 gói giấy màu trắng có chứa tổng khối lượng 1,14 gam Heroin, thu giữ trong lòng bàn tay trái của Trần Mạnh D 02 gói giấy bên trong có chứa tổng khối lượng 0,05 gam Heroine. Vào 09 giờ 00 phút ngày 12-6-2019 Công an huyện V tiến hành khám xét nơi ở của Hoàng Văn B tại thôn C, xã C, huyện V thu giữ 01 gói nilon màu hồng bên trong có 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, 22 gói giấy chứa tổng khối lượng 1,61 gam Heroine. Tổng số Heroinethu giữ là 2,8 gam B mua về mục đích sử dụng và bán kiếm lời.
Bị cáo Hoàng Văn B là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc mua bán trái phép chất ma túy đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội lớn, gây mất trật tự trị an và an toàn tại địa phương. Hành vi của bị cáo đang bị toàn xã hội bài trừ và lên án. Đây cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm khác, do đó phải đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh.
Hội đồng xét xử xét Chấp nhận Cáo trạng và đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên toà, kết tội bị cáo Hoàng Văn B về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cần được áp dụng đối với bị cáo khi xem xét quyết định hình phạt.
Về nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo không có tiền án và tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận là người nghiện chất ma tuý. Vì vậy, bị cáo là người có nhân thân xấu.
Từ những đánh giá về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, mới đủ điều kiện giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra xác minh của cơ quan điều tra Công an HUYỆN V và tại phiên tòa đã cho thấy bị cáo Hoàng Văn B là người không có tài sản riêng và là người nghiện ma túy, sống phụ thuộc vào gia đình. Vì vậy HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:
+ Số ma túy thu giữ của Hoàng Văn B và Trần Mạnh D trong vụ án có tổng khối lượng 2,8 gam heroine, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái đã lấy 0,3 gam làm mẫu giám định còn lại 2,5 gam Heroine, đã được niêm phong; 04 vỏ phong bì thư đã mở niêm phong + giấy gói + nilon gói, đến nay không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và các điểm a và c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) Hoàng Văn B đã bán ma túy cho Trần Mạnh D là tài sản do phạm tội mà có cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước theo điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
- 01 điện thoại di động bàn phím nổi có chữ NOKIA; 01 ví giả da màu nâu đã cũ, 01 chứng minh nhân dân mang tên Hoàng Văn B; 01 giấy phép lái xe mang tên Hoàng Văn B không liên quan đến việc phạm tội trả cho Hoàng Văn B. Số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) thu giữ của Trần Mạnh D không liên quan đến việc phạm phạm tội trả lại cho Trần Mạnh D. theo điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
- 01 xe mô tô màu trắng bạc BKS 29Y3-1948 nhãn hiệu HONDA xe cũ, 01 đăng ký xe mô tô mang tên Trần Thanh H đã thu giữ của Hoàng Văn B là tài sản của cả gia đình, việc bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội gia đình không biết. Nên cần trả lại cho bà Bùi Thị V, theo điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Bị cáo khai mua ma túy của người đàn ông dân tộc Mông không quen biết. Cơ quan điều tra không xác minh được nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Trần Mạnh D là người nghiện ma túy có hành vi mua 02 gói ma túy trong đó mua hộ Nguyễn Văn T 01 gói có tổng trọng lượng 0,05 gam Heroine, khối lượng ma túy nêu trên không đủ để cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Công an huyện V đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Trần Mạnh D là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với Nguyễn Văn T là người nghiện ma túy đã nhờ Trần Mạnh D mua hộ 01 gói Heroine xong T chưa nhận được ma túy. Công an huyện V đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Văn T là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn B, phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”;
2. Về Điều Luật Căn cứvà hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn B 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 12-6-2019.
3. Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 2,5 gam Heroine, đã được niêm phong trong một phong bì thư do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành; 04 vỏ phong bì thư đã mở niêm phong + giấy gói + nilon gói.
- Tịch thu của Hoàng Văn B số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Trả lại cho Hoàng Văn B: 01 điện thoại di động bàn phím nổi có chữ NOKIA; 01 ví giả da màu nâu đã cũ, 01 chứng minh nhân dân mang tên Hoàng Văn B; 01 giấy phép lái xe mang tên Hoàng Văn B.
- Trả lại cho bà Bùi Thị V 01 xe mô tô màu trắng bạc BKS 29Y3-1948 nhãn hiệu HONDA xe cũ, 01 đăng ký xe mô tô mang tên Trần Thanh H.
- Trả lại cho Trần Mạnh D 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng)
Các vật chứng, tài sản nêu trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 04 tháng 9 năm 2019 giữa cơ quan Công an huyện V, tỉnh Yên Bái và Chi cục Thi hành án dân sự huyện V, tỉnh Yên Bái.
4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Hoàng Văn B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng Hình Sự,
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi liên quan đến vụ án Bùi Thị V có quyền kháng cáo phần Bản án liên quan đến quyền lợi của mình, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi liên quan đến vụ án Trần Mạnh D có quyền kháng cáo phần Bản án liên quan đến quyền lợi của mình, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND tỉnh Yên Bái; - VKSND huyện V; - Công an huyện V; - Trại tạm giam Công an tỉnh Yên Bái; - Bị cáo; Thi hành án hình sự; - Thi hành án dân sự; - Sở Tư pháp; - Chi cục thuế huyện V; - Chi cục hải quan tỉnh Yên Bái; - UBND xã C, huyện V; - Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Trần Thành Long THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thành Long |