- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NT TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số:38 /2019/HS.ST |
Ngày: 05-3-2019
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NT, TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông NGUYỄN ĐỨC ĐẸP
Bà NGUYỄN THỊ TỈNH
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà TRƯƠNG ĐÌNH BẢO NGỌC – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố NT.
- Đại diện VKSND thành phố NT tham gia phiên tòa:
Bà NGUYỄN THỊ VÂN ANH - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố NT, tỉnh Khánh Hòa đã mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2019/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:
NGUYỄN HỮU T - sinh năm 1996
Nơi cư trú: Tổ 15, NH, xã VN, tp. NT, tỉnh Khánh Hòa.
Văn hóa: 01/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Cha: Nguyễn Hữu T – sinh năm: 1965. Mẹ: Trần Thị Mỹ Nh (đã chết)
Tiền án: Bản án số 98/HS-ST ngày 18/5/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố NT xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 09/01/2018.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Quyết định số 165/QĐ-XPHC ngày 26/5/2016 của Công an thành phố Nha Tranh xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 11/10/2018 đến ngày 17/10/2018;
Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/10/2018 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Anh Nguyễn Phi H, sinh năm 1999.
Nơi cư trú: thôn T, xã N, thị xã NH, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1979. Nơi cư trú: thôn T, xã N, thị xã NH, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Ông Đinh Văn H, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Khu phố 2, phường P, thành phố NT, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
- Anh Lê Tấn Cương, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Khu phố 1, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
* Người chứng kiến: Anh Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Tổ 2 TD, phường V, thành phố NT, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 08/10/2018, Nguyễn Hữu T (sinh năm 1996, trú tại Tổ 15 NH, xã V, thành phố NT) đi bộ đến nhà hàng Hương Vị Tứ Xuyên tại hẻm số 120 đường N, phường T, thành phố NT phát hiện 01 chiếc xe máy hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 79H1-659.63 của anh Nguyễn Phi H dụng ở trước cửa không có người trông giữ, T liền nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T dùng chiếc kéo mang theo sẵn phá khóa cổ xe rồi nổ máy điều khiển xe về nhà. Sau khi trộm cắp xe máy, T tháo biển kiểm soát 79H1- 659.63 và gắn biển kiểm soát 78C1-094.16 (biển kiểm soát này T nhặt được ngoài đường) vào xe máy Sirius, còn biển kiểm soát 79H1-659.63 và T kéo chiếc xe vứt xuống sông gần nhà.
Đến 21 giờ 00 phút ngày 11/10/2018, Nguyễn Hữu T đang điều khiển xe máy trộm cắp thì bị tổ công tác thuộc Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố NT phát hiện có biểu hiện nghi vấn về ma túy nên yêu cầu về trụ sở công an làm việc. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố NT, Nguyễn Hữu T khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe máy hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 79H1- 659.63 như trên.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 519/HĐĐG ngày 16/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận chiếc xe máy hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 79H1- 659.63 có số khung 3210JY157281, số máy E3X9EL367489 được gắn biển kiểm soát 78C1- 094.16 có giá trị 18.330.000 đồng
Tại bản Cáo trạng số 38/CT-VKSNT ngày 16 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố NT, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố NT đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T từ 09 đến 12 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[ 1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Tuy nhiên, sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
Các hành vi và quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong vụ án này đều thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- [2] Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu T thực hiện đã đủ các yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã xâm phạm đến tài sản của công dân một cách bất hợp pháp với tổng giá trị là 18.330.000đ. Bản thân bị cáo đã có một tiền án chưa được xóa án tích. Cụ thể: Tại bản án số 98/HS-ST ngày 18/5/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố NT xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt ngày 09/01/2018 nhưng đến ngày 08/10/2018 lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp: “ tái phạm” nên cần xử lý nghiêm. Tuy nhiên, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tại cơ quan điều tra, tự bị cáo đã khai nhận về hành vi trộm cắp tài sản nêu trên; tài sản đã được thu hồi trả cho người bị hại nên cần xem xét khi lượng hình.
Về dân sự: Người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên tách ra để giải quyết thành vụ án dân sự khác khi có đơn yêu cầu.
Vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 BKS 78C1 – 094.16. Xét thấy không còn giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy.
Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an Thành phố NT với Cơ quan Chi cục thi hành án dân sự Thành phố NT lập ngày 25/01/2019.
Án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu T phải nộp 200.000đ án phí HS.ST.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52 BLHS năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu T 01 ( một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án nhưng được trừ vào thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 11/10/2018 đến ngày 17/10/2018.
Về dân sự: Người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên tách ra để giải quyết thành vụ án dân sự khác khi có đơn yêu cầu.
Vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 BKS 78C1 – 094.16. (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an Thành phố NT với Cơ quan Chi cục thi hành án dân sự Thành phố NT lập ngày 25/01/2019.)
Án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu T phải nộp 200.000đ án phí HS.ST.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử lại theo trình tự phúc thẩm. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - TAND tỉnh Khánh Hòa; - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa; - VKSND thành phố NT; - Công an thành phố NT; - Chi cục THADS. TP. NT; - Lưu án văn, VP, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Bích Thủy |