- Tranh chấp gì? án hình sự — "Án Đặng Đình Thành - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; Điểm b, tiết đầu điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51BLHS: Tuyên bố bị cáo Đặng Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2019/HS-ST Ngày: 29/10/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ -TỈNH HÀ TĨNH
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Hoàn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Đình Lộc và Ông Nguyễn Văn Hữu.
- Thư ký phiên toà: Bà Bạch Thị Hà, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch Hà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Việt, Kiểm sát viên.
Hôm nay, vào hồi 08 giờ, ngày 29 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở- Toà án nhân dân huyện Thạch Hà mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2019/TLST-HS, ngày 27 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2019/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo: Họ và tên Đặng Đình T, sinh ngày 23/7/1989; Giới tính: Nam. Tại xã T, Thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Thôn P, xã T, Thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Trình độ học vấn: Lớp 12/12;
Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không;
Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Đặng Đình T (đã chết) và bà Trương Thị H, sinh năm 1966. Anh, chị em ruột: có 04 người, bị cáo là con đầu trong gia đình. Vợ, con: Chưa có. *Tiền án: Có 03 tiền án, cụ thể:
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2011/HSST, ngày 24/5/2011 của Tòa án nhân dân Thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt bị cáo 48 tháng tù về tội “Cướp tài sản” và “Cưỡng đoạt tài sản”, đã thi hành xong bản án.
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2015/HSST, ngày 31/7/2015 của Tòa án nhân dân Thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt bị cáo 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong phần hình phạt tù ngày 05/8/2016;
- Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2017/HSST, ngày 22/02/2017 của Tòa án nhân dân Thành phố H xử phạt bị cáo 27 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã thi hành xong bản án. *Tiền sự: Không. *Nhân thân: Ngày 15/8/2010 bị Công an xã T, Thành phố H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Trộm cắp tài sản”. *Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị bắt tạm giam kể từ ngày 01/8/2019 cho đến nay hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an Hà Tĩnh (Có mặt tại phiên tòa). *Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trịnh Diệu Oanh- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Tĩnh.(Có mặt) *Người bị hại: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1978 (Có mặt) Nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. *Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: 1. Ông Lê T G, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Thôn B, xã V, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. (Anh Giang có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt) 2. Bà Trƣơng Thị H, sinh năm 1966 (Có mặt) Nơi cư trú: Thôn P, xã T, Tp. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh. 3. Anh Đặng Đình TH, sinh năm 1993 (Vắng mặt) Nơi cư trú: Thôn P, xã T, Tp. Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 18/7/2019, Đặng Đình T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, biển kiểm soát 38C1-117.78 (là xe của em trai Đặng Đình TH) đi từ nhà mình ở Thôn P, xã T vào Thành phố H sau đó rẽ vào đường Hàm Nghi để lên đường tránh quốc lộ 1A. Khi đến đường tránh Quốc lộ 1A, T tiếp tục điều khiển xe đi rẽ vào Thôn L, xã Đ, huyện H. Khi đi đến trước cổng nhà anh Nguyễn Văn M quan sát thấy cổng nhà anh M mở, cửa phòng khách không khóa nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T liền dựng xe mô tô phía ngoài cổng nhà anh M rồi đi vào phòng khách. Tại đây, quan sát thấy phòng khách không có người, trong phòng có 01 chiếc tivi nhãn hiệu Samsung, màu đen, màn hình phẳng, kích thước 40 inch để ở vị trí trên kệ gỗ nên T đã dùng tay tháo dây nguồn và dây cáp đang kết nối với tivi rồi dùng hai tay bê tivi ra khỏi nhà anh M.
Sau đó, T đặt chiếc tivi lên yên xe mô tô và để tivi dựa vào lưng của mình rồi điều khiển xe đi về Thành phố H theo đường cũ. Đến đoạn gần đường tránh quốc lộ 1A, T làm rơi chiếc tivi xuống đất làm vỡ màn hình. T dừng xe bê chiếc tivi lên đặt ở giàn đèo phía trước rồi điều khiển mô tô đi đến quán sửa chữa tivi Huy Giang ở đường Đ, phường N, Thành phố H. Tại đây, T đặt vấn đề bán chiếc tivi cho chủ quán là anh Lê T G thì anh G ồng ý. T bán chiếc ti vi cho anh G với giá 400.000 đồng. Số tiền trên T tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi nhận được đơn trình báo của anh Nguyễn Văn M, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Hà đã tiến hành điều tra và triệu tập Đặng Đình T lên làm việc. Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Hà, Đặng Đình T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Ngày 30/7/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Hà ban hành yêu cầu định giá tài sản số 25/CSĐT đến Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thạch Hà tiến hành định giá đối với chiếc tivi nhãn hiệu Sam Sung mà bị cáo Đặng Đình T lấy trộm của gia đình anh Nguyễn Văn M.
Tại Bản kết luận định giá số 26/KLĐG, ngày 31/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thạch Hà kết luận: 01Tivi loại màn hình phẳng, nhãn hiệu Samsung, màu đen, kích thước 40 inch đã qua sử dụng trị giá là: 3.900.000 đồng.
Vật chứng thu giữ bao gồm: 01(Một) Ti vi Samsung, màu đen, màn hình phẳng, kích thước 40 inch, số modelcodel: UA 40J5500AKXXV, số seri: 0113C3YEG900821Y đã qua sử dụng, màn hình bị rạn nứt; 01(Một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại Exciter, màu sơn xám vàng, biển kiểm soát 38C1-117.78, số khung 5P10DY327443, số máy 55P1-327431 đã qua sử dụng; 01(Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Đình Cường; 01 Giấy bán, cho, tặng xe của anh Nguyễn Đình Cường cho Đặng Đình TH.
Ngày 28/8/2019, xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Hà đã tiến hành trả lại tài sản cho bị hại là anh Nguyễn Văn M chiếc tivi nêu trên. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại Exciter, màu sơn xám vàng, biển kiểm soát 38C1-117.78 được chuyển cho cơ quan Thi hành án dân sự huyện Thạch Hà để bảo quản, xử lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo Đặng Đình T đã tác động với gia đình để thỏa thuận bồi tH dân sự cho người bị hại. Bà Trương Thị H(mẹ của bị cáo) đã đứng ra thay bị cáo bồi tH cho anh Nguyễn Văn M số tiền 3.900.000 đồng. Nay anh M không có yêu cầu gì thêm đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đối với anh Lê T G là người đã mua chiếc tivi do Đặng Đình T đem bán với giá 400.000 đồng, khi mua anh Giang không biết đó là tài sản do trộm cắp mà có. Nay chiếc ti vi trên đã được Cơ quan điều tra thu giữ trả lại cho người bị hại, hiện anh Giang không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền trên.
Bản cáo trạng số 32/CT-VKSTH, ngày 26/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà đã truy tố bị cáo Đặng Đình T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS.
Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố, đồng thời phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân bị cáo và đề nghị HĐXX xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, tiết đầu điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51BLHS xử phạt bị cáo Đặng Đình T mức án từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 01/08/2019. Về áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS truy thu nộp ngân sách Nhà nước từ bị cáo Đặng Đình T số tiền 400.000đ tiền thu lợi bất chính. Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS sự trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển kiểm soát 38C1-117.78 cho chủ sở hữu là anh Đặng Đình TH. Về án phí: Tại phiên tòa bị cáo có đơn xin miễn án phí đề nghị HĐXX xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa Trợ giúp viên pháp lý Trịnh Diệu Oanh phát biểu bài bào chữa cho bị cáo Đặng Đình T với nội dung: Trợ giúp viên hoàn toàn đồng tình với quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của Kiểm sát viên và không có ý kiến gì tranh luận thêm, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Sau khi phạm tội T khẩn khai báo, đã tác động với gia đình bồi tH đầy đủ khắc phục hậu quả thiệt hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, hoàn cảnh gia đình khó khăn thuộc diện hộ nghèo. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt. Về án phí: Bị cáo là hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí nên đề nghị HĐXX xem xét, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Đình T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và thừa nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát là đúng.
Tại phiên tòa người bị hại ông Nguyễn Văn M không có ý kiến gì tranh luận với quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của Kiểm sát viên, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa người có nghĩa vụ liên quan Trương Thị H hoàn toàn đồng tình với quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của Kiểm sát viên và không có ý kiến gì tranh luận thêm chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo T nói lời sau cùng: Kính thưa Hội đồng xét xử, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về chăm sóc cho mẹ và em.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thạch Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay bị cáo Đặng Đình T khai nhận: Vào khoảng 12 giờ ngày 18/7/2019, Đặng Đình T đã đột nhập vào nhà anh Nguyễn Văn M lấy trộm 01 chiếc Tivi nhãn hiệu Samsung, màu đen, màn hình phẳng, loại 40 inch. Trị giá tài sản chiếm đoạt là 3.900.000đ. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.
Bị cáo Đặng Đình T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Tuy giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt dưới 50.000.000đ đồng nhưng bị cáo đã có 03 tiền án và chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này đã đủ yếu tố cấu T tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS. Điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS quy định: “Phạm tội trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: “Tái phạm nguy hiểm ”. Vì vậy, khẳng định quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai.
. Xem xét tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy rằng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật hình sự ghi nhận bảo vệ, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Với động cơ tư lợi cá nhân, mục đích muốn có tiền tiêu xài phục vụ cho nhu cầu bản thân nhưng lại không muốn bỏ sức lao động chỉ muốn hưởng thụ trên T quả lao động của người khác. Bị cáo là người có nhân thân xấu, tuy đã 03 lần bị Tòa án xử phạt về các tội “Cướp tài sản”, “Cưỡng đoạt tài sản” và “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm để tự tu dưỡng rèn luyện bản thân, vừa mới ra tù được một thời gian ngắn bị cáo lại tiếp tục dấn thân vào con đường phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự coi tH pháp luật, coi tH kỷ cương phép nước. Chính vì vậy, cần xử phạt bị cáo thật nghiêm, phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để thức tỉnh ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật của bị cáo cũng như phong ngừa chung cho xã hội.
.Về xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là khai báo T khẩn, đã bồi thường đầy đủ khắc phục hậu quả thiệt hại, người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định điểm b, tiết đầu điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51BLHS.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa người bị hại anh Nguyễn Văn M trình bày hiện tại anh đã nhận lại tài sản và giữa anh và bà Trương Thị H(mẹ của bị cáo) đã thỏa thuận thống nhất về phần bồi tH về dân sự, cụ thể anh đã nhận từ bà Trương Thị H số tiền 3.900.000đ nay anh không yêu cầu bị cáo phải bồi tH gì thêm.
Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Lê T G đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 400.000đ mà anh đã bỏ ra để mua chiếc ti vi do bị cáo đem bán nên Hội đồng xét xử miễn xét.
.Về thu lợi bất chính: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận, số tiền thu lợi bất chính từ hành vi bán 01 tivi nhãn hiệu Samsung, màu đen, màn hình LCD, kích thước 40 inch được số tiền là 400.000đ, số tiền này bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết. Nay anh Lê T G không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền này, vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần truy thu số tiền thu lợi bất chính từ bị cáo để nộp ngân sách Nhà nước.
. Về xử lý vật chứng: Qúa trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Hà đã trả lại cho anh Nguyễn Văn M 01 chiếc ti vi nhãn hiệu Samsung, màu đen, màn hình LCD, kích thước 40 inch. Xét thấy việc trả lại tài sản này của cơ quan điều tra là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định pháp luật nay người bị hại không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
Ngoài ra, trong quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra còn tạm giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại Exciter màu sơn xám vàng, biển kiểm soát 38C1-117.78 kèm theo 01 giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Đình Cường và 01 giấy bán tặng cho xe. Xác định chiếc xe này là phương tiện mà bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, xác M thì chiếc xe mô tô này là xe của anh Đặng Đình TH(em trai) của bị cáo, xe này anh TH mua lại của anh Nguyễn Đình Cường ở thôn Hạ Triều, xã Vĩnh Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện tại anh Đặng Đình TH đang đi làm ăn xa và không có mặt tại địa phương. Việc bị cáo tự ý sử dụng xe mô tô làm phương tiện phạm tội anh TH hoàn toàn không biết. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đối với chiếc xe mô tô này cần trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
. Về án phí: Tại phiên tòa bị cáo Đặng Đình T có đơn xin miễn án phí với lý do là hoàn cảnh gia đình khó khăn thuộc diện hộ nghèo, vì thế Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Liên quan trong vụ án này có anh Lê T G là chủ quán sửa chữa tivi Huy Giang tại đường Đặng Dung, pH Nam Hà, Thành phố H là người đã mua chiếc tivi nhãn hiệu Sam Sung do Đặng Đình T đem bán. Tuy nhiên, khi mua anh Giang hoàn toàn không biết tài sản bị cáo đem bán là do trộm cắp mà có, do vậy không đủ căn cứ để xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với anh Giang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; Điểm b, tiết đầu điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51BLHS: Tuyên bố bị cáo Đặng Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Đặng Đình T 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 01/8/2019.
[2]. Về áp dụng các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS truy thu nộp ngân sách Nhà nước từ bị cáo Đặng Đình T số tiền 400.000đ (Bốn trăm ngàn đồng) tiền thu lợi bất chính để nộp ngân sách Nhà nước.
[3]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS; Điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp anh Đặng Đình TH các giấy tờ, tài sản sau:
- 01 (Một) Giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Đình Cường , 01(Một) Giấy bán tặng cho xe (Hiện các giấy tờ này đang được bảo quản cùng hồ sơ vụ án);
- 01(Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn xám vàng, biển kiểm soát 38C1-117.78, số máy 55P1-327431, số khung 5P10DY327443.
(Đặc điểm, tình trạng tang vật có tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 26/9/2019 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Thạch Hà và Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh)
[4]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban tH vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đặng Đình T.
[5]. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND huyện Thạch Hà; - Công an huyện Thạch Hà; - Trợ giúp viên pháp lý; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Hà; - Bị cáo; - Người bị hại; - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; - Văn phòng Tòa án(để công bố cổng TTĐT) - Lưu HSVA+VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Khắc Hoàn |