- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Thúy-Lê Thành Phước"
- Tòa quyết gì? 1/Về hôn nhân: xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Phạm Thị T. Xử cho chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Lê Thành P.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 38 /2019/HNGĐ - ST Ngày: 21-08-2019 Về việc: “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Bồng
- Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Xuân Tỵ
2. Bà Nguyễn Thị Hải yến
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đinh Duy Toàn - Thư ký tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: ông Trần Thanh Hoàng- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 28/2019/TLST- HNGĐ ngày 17 tháng 1 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyễn đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1992; địa chỉ: Số nhà 53, đường Nguyễn H T, xã L N, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng (có mặt);
2. Bị đơn: Anh Lê Thành P, sinh năm 1991; địa chỉ: Số nhà, tổ 11, phường L S, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng (vắng mặt không lý do);
NỘI DUNG VỤ ÁN
+ Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/12/2018, các lời khai trong qúa trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Phạm Thị Thúy trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T và anh Lê Thành P chung sống với nhau có kết hôn vào ngày 08/09/2014 và làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã Phổ Hòa, huyện Đức Phổ, tỉnh Quãng Ngãi. Từ sau khi kết hôn vợ chồng sống chung ở gia đình nhà chồng được vài tháng thì về gia đình vợ ở được 2 năm thì ra riêng thuê nhà tại địa chỉ tổ 11, phường L S, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. Trong quá trình chung sống vợ chồng luôn xảy ra bất đồng mâu thuẫn nhau anh P không chịu lo làm ăn ham chơi bời, theo bạn bè nghiện ngập ma túy, chị T có nói, có góp ý thì hành hung đập phá đồ đạc trong nhà, xúc phạm chị rất nhiều lần cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, không có sự quan tâm chia sẻ nhau nên đầu năm 2019 vợ chồng sống ly thân nhau chị T về nhà mẹ đẻ ở, anh P vẫn ở nhà trọ, cả hai đều không có thiện chí đoàn tụ mạnh ai nấy sống không có sự quan tâm nhau, chị T đã tạo rất nhiều cơ hội cho anh P cải sửa nhưng anh không chịu khắc phục nay tình cảm vợ chồng không còn, không còn sự quan tâm nhau hôn nhân không thể tồn tại được. Nay chị T yêu cầu được ly hôn anh Lê Thành P.
- Về con chung: Chị T khai vợ chồng không có con chung;
- Về tài sản chung: Chị T khai không có tài sản chung;
- Nợ chung, nợ riêng: Chị T khai không có nợ chung;
+ Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Lê Thành P đã được Toà án triệu tập rất nhiều lần nhưng anh P cố tình vắng mặt qua quá trình xác minh lấy ý kiến chính quyền địa phương và mẹ chị T thể hiện:
- Về quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn và sống chung đúng như lời trình bày cùa chị T, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cách sống, trong quan hệ tình cảm vợ chồng liên tục mâu thuẫn nhau. Cuộc sống chung không hạnh phúc nên chị T bỏ về nhà bố mẹ đẻ từ đầu năm 2019 cho đến nay, anh P không thuyết phục chị T về đoàn tụ, anh P đã nhận được thông báo thụ lý của Tòa án Bảo Lộc nhưng vẫn cố tình trốn tránh không hợp tác để giải quyết vụ án.
Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 12/06/2019, nhưng không được vì anh P cố ý vắng mặt, chị T có đơn xin hòa giải, công khai chứng cứ vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ niêm yết các văn bản tố tụng cho anh P.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong qúa trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghỉ nghị án như sau: Thực hiện đúng trình tự thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự qui định. Về nội dung chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Phạm Thị Thúy. Con chung không có , tài sản chung , nợ chung : không có
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa căn cứ vào kết qủa tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Anh Lê Thành P đã được triệu tập hợp lệ 2 lần để xét xử nhưng ông P vắng mặt không lý do. Căn cứ vào khoản 2, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt anh P.
Áp dụng pháp luật: Xác định đây là tranh chấp ly hôn áp dụng khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ tranh chấp: Chị Phạm Thị T và anh Lê Thành P có kết hôn tháng 09/2014 có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã Phổ Hòa, huyện Đức Phổ, tỉnh Quãng Ngãi hôn nhân tự nguyện tiến bộ, không ai bị ép buộc, vợ chồng chị T và anh P chung sống đến đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, trong tình cảm, bất đồng trong mọi vấn đề anh P không chịu lo làm ăn để xây dựng kinh tế gia đình, vợ chồng thường xuyên cải vã không tôn trọng nhau. Mặc dù sống cùng chung nhà nhưng mạnh ai nấy sống, không ai còn quan tâm đến nhau nữa, tình cảm vợ chồng không còn nên từ đầu năm 2019 vợ chồng đã sống ly thân nhau chị T về nhà bố mẹ đẻ ở xã Lộc Nga cho đến nay.
Toà án đã triệu tập rất nhiều lần nhưng anh P cố tình không đến để Toà án hoà giải. Qua quá trình xác minh thu thập chứng cứ tại địa chỉ nơi anh P cư trú, Toà án kết hợp cùng chính quyền địa phương đến nơi anh P tạm trú để làm việc nhưng anh P vắng mặt anh đã biết được Tòa án đang thụ lý giải quyết nhưng cố tình giấu địa chỉ, đại diện chính quyền địa phương cũng như mẹ chị T cũng xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể khắc phục được nhưng anh P không chịu hợp tác để giải quyết vụ án.
Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh P đã trầm trọng, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai, đời sống chung không có, mục đích của hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T là có căn cứ và hợp pháp.
Về con chung: Vợ chồng sống chung không có con chung;
Về tài sản chung: Chị T khai không có nên không đề cập đến;
Về nợ chung, nợ riêng: Chị T khai không có. Trong quá trình giải quyết không ai có tranh chấp gì nên không xem xét.
Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2, Điều 227; 271 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 51, 56 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án.
1/Về hôn nhân: xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Phạm Thị T. Xử cho chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Lê Thành P.
2/ Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số AA/2015/0002837 ngày 17/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc. Chị Phạm Thị T đã nộp đủ án phí.
3/ Các đương sự có mặt kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án hôm nay, đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng. - VKSND tỉnh Lâm Đồng. - VKSND thành phố Bảo Lộc. -UBND xã Đức Hòa, Đức Phổ, tỉnh Quãng Ngải; - Đương sự. - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thanh Bồng ( đã ký) |