vanban.org

Bản án 38/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Về quan hệ hôn nhân: Xử: Cho chị Phạm Thị H và anh Bùi Văn S ly hôn.

* Về con chung: giao cho chị Phạm Thị H ® îc trùc tiÕp nu«i d ìng, ch¨m sãc vµ gi¸o dôc cháu Bùi Thị Hà M - sinh ngày 04/02/2015 đến khi thành niên. Anh Bùi Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Phạm Thị H. Hai bên đều có quyền trông nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được cản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? * Về quan hệ hôn nhân: Xử: Cho chị Phạm Thị H và anh Bùi Văn S ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2019/ HNGĐ- ST
Ngày 31/10/2019
V/v “Hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1- Bà Bùi Thị Kim Hiền

2- Bà Nguyễn Thị Tuyết

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lƣơng Anh Tuấn - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 31/10/2019 tại trụ sở TAND huyện Phù Ninh - tỉnh Phú Thọ, TAND huyện Phù Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 194/2019/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43 ngày 26/9/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H - sinh năm 1982 Địa chỉ: khu 9, xã D, huyện P, tỉnh Phú Thọ. (Hôm nay, vắng mặt. Có đơn xin xử vắng mặt)

Bị đơn: Anh Bùi Văn S - sinh năm 1978 Địa chỉ: khu 9, xã D, huyện P, tỉnh Phú Thọ. (Hôm nay, vắng mặt. Không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai tiếp theo chị Phạm Thị H trình bày: chị và Bùi Văn S tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện P, tỉnh Phú Thọ vào năm 2014. Sau kết hôn vợ chồng chị ở riêng, vợ chồng chung sống hòa thuận được một năm thì phát sinh mâu thuẫn do anh chị không hợp nhau, không có tiếng nói chung nên vợ chồng hay cãi nhau. Chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị xin được ly hôn với anh Sâm.

Về con chung: vợ chồng có 01 con chung là cháu Bùi Thị Hà M - sinh ngày 04/02/2015, khi ly hôn chị xin được nuôi cháu My và không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức: Đều không có.

* Đối với anh Bùi Văn S: Tòa án triệu tập anh Bùi Văn S đến Tòa án để làm việc nhưng anh S đều không có mặt nên Tòa án không lấy được lời khai và không hòa giải được. Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

{1}Chị Phạm Thị H làm đơn xin ly hôn với anh Bùi Văn S và yêu cầu giải quyết về phần con chung khi ly hôn. Do đó đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh theo quy định tại khoản 1 điều 28, điểm a, khoản 1 điều 35 BLTTDS.

{2}Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh S kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện P, tỉnh Phú Thọ là phù hợp với luật hôn nhân gia đình Việt Nam. Theo chị H trình bày mâu thuẫn của vợ chồng chị là do anh chị không hợp nhau, không có tiếng nói chung nên vợ chồng hay cãi nhau. Chị thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh S không còn, chị xin được ly hôn với anh S. Về phía anh S mặc dù đã được Tòa án thông báo thụ lý vụ án và gửi các văn bản tố tụng cho anh S để anh S thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nhưng anh S không có mặt.

Theo biên bản làm việc ngày 26/9/2019 tại UBND xã D đại diện chính quyền địa phương cung cấp: Chị Phạm Thị H và anh Bùi Văn S tự nguyện kết hôn năm 2014. Sau kết hôn anh chị về chung sống tại khu 9 xã D, huyện P, tỉnh Phú Thọ. UBND xã D được biết là thời gian gần đây gia đình chị H có sẩy ra mâu thuẫn, chị H có đến UBND xã D sao chụp một số giấy tờ để làm thủ tục ly hôn anh S tại TAND huyện Phù Ninh. UBND xã D có biết là gia đình anh chị sẩy ra mâu thuẫn còn mâu thuẫn cụ thể như thế nào thì UBND xã cũng không nắm được. Thời gian gần đây UBND xã có nhận được một số văng bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập làm việc và các thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án, UBND xã có cử cán bộ đưa thư đến gia đình giao cho anh S, anh S đã nhận, còn việc anh S có đến Tòa án làm việc hay không, UBND xã không nắm được

Tại biên bản làm việc ngày 26/9/2019 tại gia anh Bùi Văn S ở khu 9, xã D để giao cho anh S một số văn bản tố tụng của Tòa án huyện Phù Ninh về việc chị H xin ly hôn anh S. Nhưng anh S không nhận và cũng không hợp tác làm việc với Tòa án và chính quyền địa phương, không thể hiện quan điểm gì, cũng không nhận các văn bản tố tụng của Tòa án giao.

Tại phiên tòa hôm nay chị H có đơn xin được xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên quan điểm là xin được ly hôn với anh S vì tình cảm vợ chồng không còn. Như vậy có thể khẳng định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh S đã đến mức trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do đó nên xử cho chị Hằng được ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 56 luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

{3} Về con chung: Chị H xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Bùi Thị Hà M - sinh ngày 04/02/2015, khi ly hôn chị xin được nuôi cháu M và không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Quá trình giải quyết vụ án anh S thường xuyên có mặt tại địa phương nhưng anh S không đến Tòa án để làm việc, không có lời khai và cũng không hòa giải được nên không thể hiện được về phần con chung. Hiện nay cháu Bùi Thị Hà M đang ở với chị H, để đảm bảo quyền lợi về nuôi con cần giao cháu Bùi Thị Hà M cho chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H do chị H không yêu cầu.

{4} Về tài sản chung, nợ chung, công sức: chị H xác nhận vợ chồng đều không có. Do anh S vắng mặt nên không có lời khai, tòa án không đặt ra xem xét.

{5} Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện VKS nhân dân huyện Phù Ninh có quan điểm: vụ án thụ lý đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay tuân thủ đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đại điện VKS đề nghị Tòa án xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn với anh Bùi Văn S. Về con chung: giao cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Thị Hà M; Về tài sản chung, nợ chung, công sức: không đặt ra xem xét; Về án phí: chị H phải chị án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

{6} Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu tiền án phí Hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

* Về quan hệ hôn nhân: Xử: Cho chị Phạm Thị H và anh Bùi Văn S ly hôn.

* Về con chung: giao cho chị Phạm Thị H ® îc trùc tiÕp nu«i d ìng, ch¨m sãc vµ gi¸o dôc cháu Bùi Thị Hà M - sinh ngày 04/02/2015 đến khi thành niên. Anh Bùi Văn S không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Phạm Thị H.

Hai bên đều có quyền trông nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được cản trở.

* Về tài sản chung, nợ chung, công sức: không xem xét giải quyết.

* Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0001247 ngày 15/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ. Chị H đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để đề nghị tòa án xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ