- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp không công nhận vợ chồng và nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Lý Thị Mỹ N và anh Phùng Văn T là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2019/HNGĐ-ST Ngày: 16 - 9 - 2019. “V/v tranh chấp không công nhận vợ chồng và nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Kiều Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Thanh Răng;
Ông Lý Thanh Chiều.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Phước Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Triệu Thị Mộng Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2019 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 190/2019/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2019 về “Tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lý Thị Mỹ N; Cư trú: Số 1, ấp Xây Đ, xã Hồ Đắc K, huyện Châu T, tỉnh Sóc T (có mặt).
- Bị đơn: Anh Phùng Văn T; Cư trú: Ấp Phước N, xã Mỹ P, huyện Mỹ T, tỉnh Sóc T (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 05 tháng 7 năm 2019 nguyên đơn chị Lý Thị Mỹ N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lý Thị Mỹ N và anh Phùng Văn T có tổ chức lễ cưới vào năm 2004 nhưng không đăng ký kết hôn. Sau khi cưới anh chị chung sống tại ấp Phước N, xã Mỹ P, huyện Mỹ T, tỉnh Sóc T. Trong khoảng thời gian đầu anh chị sống với nhau rất hạnh phúc, đến đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, anh chị thường xuyên cãi vã, không thể hàn gắn, dẫn đến cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc.
Về con chung: Trong thời gian chung sống chị N và anh T có 01 con chung tên Phùng Lý Ngọc P, sinh ngày 03 tháng 12 năm 2005, hiện nay cháu P đang sống chung với chị N.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Chị Lý Thị Mỹ N yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu không công nhận chị N với anh Phùng Văn T là vợ chồng.
- Về con chung: Chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung Phùng Lý Ngọc P, sinh ngày 03 tháng 12 năm 2005, chị N yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu P đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa sơ thẩm chị N thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về cấp dưỡng nuôi con, chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Đối với bị đơn anh Phùng Văn T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, nhưng bị đơn không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án triệu tập hợp lệ bị đơn 02 lần để tham gia tố tụng tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng bị đơn vắng mặt. Vì vậy, Tòa án đã lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Biên bản không tiến hành hòa giải được và thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để đưa vụ án ra xét xử.
Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn tại phiên tòa hôm nay đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn anh Phùng Văn T chưa chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lý Thị Mỹ N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Tòa án triệu tập hợp lệ bị đơn anh Phùng Văn T đến lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm, nhưng anh T vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của anh T không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Phùng Văn T.
Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự là không công nhận quan hệ vợ chồng và nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn cư trú tại ấp Phước N, xã Mỹ P, huyện Mỹ T, tỉnh Sóc T, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Tại phiên tòa chị N xin thay đổi một phần nội dung yêu cầu khởi kiện, chị N không yêu anh T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, việc thay đổi một phần nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện nhưng không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện. Căn cứ khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử chấp nhận sự thay đổi này của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị Lý Thị Mỹ N và anh Phùng Văn T tự nguyện chung sống với nhau có tổ chức lễ cưới vào năm 2004, đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng không đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống thì anh, chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên cự cãi, chị N và anh T không còn sống chung với nhau từ đầu năm 2019 cho đến nay. Xét thấy, chị N và anh T sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2004 nhưng không đăng ký kết hôn là vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Mặt khác, theo quy định tại điểm c khoản 3 Nghị Quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội thì quan hệ hôn nhân của chị N và anh T không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Do đó Hội đồng xét xử tuyên bố không công nhận chị Lý Thị Mỹ N và anh Phùng Văn T là vợ chồng.
Về con chung: Trong thời gian chung sống chị N và anh T có 01 con chung tên Phùng Lý Ngọc P, sinh ngày 03 tháng 12 năm 2005, hiện nay cháu P đang sống chung với chị N. Xét thấy, từ khi anh chị không còn sống chung với nhau cháu P do chị N nuôi dưỡng, chăm sóc, cuộc sống đã ổn định về mặt vật chất cũng như tinh thần. Tòa án có ghi ý kiến cháu P, cháu có nguyện vọng sống chung với chị N. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu P. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục giao con chung Phùng Lý Ngọc P, sinh ngày 03 tháng 12 năm 2005 cho chị N nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.
Về nghĩa vụ, quyền của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Căn cứ khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình. Anh T là người không trực tiếp nuôi con, nên anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N có khả năng nuôi con không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 244; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 9, khoản 2 Điều 81 và khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình. Điểm c khoản 3 Nghị Quyết 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhận chị Lý Thị Mỹ N và anh Phùng Văn T là vợ chồng.
2. Về con chung: Giao con chung Phùng Lý Ngọc P, sinh ngày 03 tháng 12 năm 2005 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lý Thị Mỹ N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006296 ngày 05/7/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, chị N đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày. Riêng bị đơn anh Phùng Văn T thì thời hạn kháng cáo nêu trên được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Mỹ Tú; - Chi cục THADS huyện Mỹ Tú; - TAND tỉnh Sóc Trăng; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đào Thị Kiều Oanh |