- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị Quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2019/HNGĐ-ST Ngày: 20/9/2019 Về tranh chấp: "Ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIÊN KHÁNH
TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đức Thuận
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Thị Huê;
Ông Đinh Gia Bảo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Sương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diên Khánh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh mở phiên tòa xét xử công khai theo thủ tục thông thường vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 52/2019/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2019 về "Ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án xét xử số: 40/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 26/2019/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Bà Lê Thị Nhật D – sinh năm 1991
Địa chỉ: xã Diên Lạc, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Bà D có mặt
2. Bị đơn: Ông Trần Trọng H – sinh năm 1990
Địa chỉ: xã Suối Hiệp, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Ông H vắng mặt lần thứ 2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 08/3/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Lê Thị Nhật D trình bày: Bà và ông Trần Trọng H tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Diên Lạc, huyện Diên Khánh. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng sống chung với nhau hạnh phúc, nhưng về sau vợ chồng bà thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, hay cãi vả nhau, đời sống không có hạnh phúc. Sau khi kết hôn ông H ở cùng bà tại xã Diên Lạc. Tuy nhiên, từ tháng 02/2019 ông H đã bỏ về nhà cha mẹ tại xã Suối Hiệp để sinh sống. Đến nay bà và ông H không còn tình cảm nên bà D kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Trọng H.
Về con chung: Vợ chồng bà không có con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: không có.
Bị đơn ông Trần Trọng H đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy Toà án tiến hành các thủ tục theo quy định pháp luật để làm cơ sở giải quyết vụ án.
Ý kiến của Viện kiểm sát: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn phát biểu việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký, các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được xem xét tại phiên Tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, xét thấy:
Về thủ tục: Ông Trần Trọng H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà lần 2 không có lý do; căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H.
Theo giấy chứng nhận kết hôn và lời khai của đương sự, Hội đồng xét xử xác định bà Lê Thị Nhật D và ông Trần Trọng H là vợ chồng. Nay bà D yêu cầu ly hôn với ông H là một yêu cầu thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Xét về nội dung yêu cầu khởi kiện thì thấy rằng: Bà Lê Thị Nhật D và ông Trần Trọng H tự nguyện sống chung với nhau có đăng ký kết hôn nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng quan điểm sống dẫn đến hay cãi vả, không có hạnh phúc. Từ tháng 02/2019 bà và ông H không còn chung sống với nhau. Vì vậy, bà D yêu cầu được ly hôn với ông H. Bản thân ông H đang sinh sống tại địa phương, đã được Toà án triệu tập đến Toà nhiều lần để giải quyết nhưng vẫn vắng mặt, điều đó chứng tỏ ông H không còn quan tâm đến cuộc sống chung của vợ chồng nữa và từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa bà D và ông H đã thực sự trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà D.
Về con chung: Bà Lê Thị Nhật D xác định vợ chồng không có con chung nên không có yêu cầu gì.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà D xác định không có.
Về án phí: Bà Lê Thị Nhật D phải nộp tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Điều 147; Điều 227; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- Nghị Quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Bà Lê Thị Nhật D được ly hôn ông Trần Trọng H.
2. Về án phí: Bà Lê Thị Nhật D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà D đã nộp theo biên lai số AA/2016/0002580 ngày 08/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diên khánh. Bà D đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Bà Lê Thị Nhật D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Trần Trọng H thời hạn nói trên được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND huyện Diên Khánh; - Đương sự; - UBND xã Diên Lạc (nơi đăng ký kết hôn); - THADS huyện Diên Khánh; - Lưu | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Đức Thuận |