- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Băng Th đối với anh Trần Quốc V. Cho chị Phạm Thị Băng Th ly hôn với anh Trần Quốc V.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38 /2019/HNGĐ-ST Ngày: 10-7- 2019 “Xin ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Giữ 2. Ông Đinh Công Đoàn
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Điền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa.
Hôm nay, ngày 10 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 78/2019/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2019 về tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2019/QĐXX- ST, ngày 31 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Băng Th, sinh năm 1992 nơi cư trú tổ 04, ấp Thành A, xã Thành Đ, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long. ( Có mặt)
2. Bị đơn: Anh Trần Quốc V, sinh năm 1991 nơi cư trú ấp Tân Ph, xã Tân Th, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long. ( Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản khai đề ngày 19/3/2019 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị Phạm Thị Băng Th trình bày:
Vào năm 2016 Chị Th và anh Trần Quốc V do quen biết nhau được gia đình chấp thuận có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Th, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long được cấp giấy chứng nhận ngày 02/11/2016. Nữ trang cưới có 20 chỉ vàng 24k nhưng khi sống chung vợ chồng đã bán đầu tư trồng khoai lang bị thua lỗ hết không còn.
Sau khi kết hôn vợ chồng sống tại ấp Thành A, xã Thành Đ, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long, hạnh phúc được 02 năm, anh chị có 01 con chung tên Trần Thị Lan A, sinh ngày 27/9/2016 hiện đang sống cùng chị Tha. Anh V và chị Th sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẩn do chị Th phát hiện trong điện thoại anh V có tin nhắn của anh V rũ người con gái khác đi nhà trọ cho nên vợ chồng hay cự cải nhau, ngoài ra giữa chị và anh V còn mâu thuẫn trong việc nuôi dạy con chung, anh V vô cớ đánh đập chị Th cho nên chị Th đã bỏ về nhà cha mẹ ruột sinh sống cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân anh V và chị không ai quan tâm hay thăm nom gì nhau. Nhận thấy không thể tiếp tục chung sống với nhau được nửa, chị Th xác định tình cảm vợ chồng không còn, sống chung không hạnh phúc do đó chị yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
Về hôn nhân: Chị Phạm Thị Băng Th yêu cầu ly hôn với anh Trần Quốc V.
Về con chung: Cháu Trần Thị Lan A, sinh ngày 27/9/2016 chị Th yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản: Không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.
* Ý kiến trình bày của bị đơn anh Trần Quốc V:
Từ khi thụ lý vụ án đến ngày xét xử sơ thẩm bị đơn anh Trần Quốc V hoàn toàn không có ý kiến gì gửi cho Tòa án.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn chị Th vẫn giữ yêu cầu khởi kiện anh Trần Quốc V. Về hôn nhân Chị Phạm Thị Băng Th yêu cầu ly hôn với anh Trần Quốc V. Về con chung: Cháu Trần Thị Lan A, sinh ngày 27/9/2016 chị Th yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu anh Trần Quốc V cấp dưỡng nuôi con. Về quan hệ tài sản: Không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Chị Phạm Thị Băng Thanh có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bình Tân giải quyết ly hôn anh Trần Quốc V cư trú tại ấp Tân Ph, xã Tân Th, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.
Từ khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, được triệu tập hợp lệ dự phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải các ngày 15/5/2019, ngày 31/5/2019, triệu tập tham dự phiên tòa vào các ngày 20/6/2019 và ngày 10/7/2019 cho anh Trần Quốc V đúng theo quy định của pháp luật nhưng anh Trần Quốc V hoàn toàn không có ý kiến gì gửi cho Tòa án, cũng như tại phiên tòa hôm nay vắng mặt anh V. Do đó, căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Trần Quốc V.
Về nội dung:
[ 2.1] Về quan hệ hôn nhân chị Phạm Thị Băng Th và anh Trần Quốc V có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tân Th, huyện BT, tỉnh Vĩnh Long được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 02/11/2016 đúng theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận. Xét yêu cầu của chị Phạm Thị Băng Th xin ly hôn anh Trần Quốc V hoàn toàn có cơ sở, bởi vì về mâu thuẩn vợ chồng giữa chị Th và anh Trần Quốc V là trầm trọng, vợ chồng có thời gian sống ly thân rất lâu, chị Th xác định không còn tình cảm với anh V nên không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng, cho nên mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Phạm Thị Băng Th được ly hôn với anh Trần Quốc V.
Về con chung: Cháu Trần Thị Lan A, sinh ngày 27/9/2016 chị Th yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu anh Trần Quốc V cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung của chị Th là hoàn toàn có cơ sở vì từ khi chị Th và anh V sống ly thân đến nay chị Th nuôi cháu Lan A cũng đảm bảo tốt mọi mặt đời sống sinh hoạt của cháu Lan A. Mặt khác, căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định con dưới 36 tháng tuổi được giao cho người mẹ nuôi cho nên yêu cầu của chị Th là hoàn toàn phù hợp với quy định Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Anh V không trực tiếp nuôi con chung nhưng có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, chị Th không được ngăn cản. Về cấp dưỡng nuôi con chị Thanh không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về quan hệ tài sản: Chị Phạm Thị Băng Th không tranh chấp không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Chị Phạm Thị Băng Th phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 9, Điều 56, 81,82 và điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Băng Th đối với anh Trần Quốc V. Cho chị Phạm Thị Băng Th ly hôn với anh Trần Quốc V.
2. Về con chung: Giao cháu Trần Thị Lan A, sinh ngày 27 tháng 9 năm 2016 cho chị Phạm Thị Băng Th tiếp tục nuôi dưỡng, anh Trần Quốc V không phải cấp dưỡng nuôi con. Quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ sau khi ly hôn đối với việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung được thực hiện theo Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3. Về quan hệ tài sản: Chị Phạm Thị Băng Th không tranh chấp không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc chị Phạm Thị Băng Th phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm. Khấu trừ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo lai thu số 0015405 ngày 11 tháng 4 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Tân. Vậy chị Phạm Thị Băng Th đã nộp đủ không phải nộp thêm.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Án xử công khai nguyên đơn có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn anh Trần Quốc V vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND. Tỉnh Vĩnh Long; - VKSND.H Bình Tân; - Chi cục THADS.H Bình Tân; - UBND xã Tân Thành; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký tên, đóng dấu) Nguyễn Thị Hồng Diễm |