vanban.org

Bản án 38/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Chị Nguyễn Thị Diễm H, xử cho Chị Nguyễn Thị Diễm H và Anh Nguyễn Hồng P được ly hôn.

Về con chung: Giao 01 con chung tên Nguyễn Hồng P, sinh ngày 10/12/2017 cho Hương tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con do Chị H không yêu cầu. Sau khi ly hôn Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về tài sản chung: Chị H kha… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Chị Nguyễn Thị Diễm H, xử cho Chị Nguyễn Thị Diễm H và Anh Nguyễn Hồng P được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2019/HNGĐ-ST
Ngày 12-7-2019
V/v: Ly hôn, tranh chấp
nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Thanh Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Văn Lộc.

Ông Hoàng Đình Ngân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiệp – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2019/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Diễm H, sinh năm 1993;

Địa chỉ: Tổ 3, ấp L, xã V, huyện C, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

Bị đơn: Anh Nguyễn Hồng P, sinh năm 1980;

Địa chỉ: Tổ 3, ấp L, xã V, huyện C, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 18/02/2019 nguyên đơn Chị Nguyễn Thị Diễm H và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án Chị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và Anh Nguyễn Hồng P chung sống với nhau từ năm 2017, có đăng ký kết hôn ngày 22/02/2017 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Trong quá trình sống chung vợ chồng anh chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do Anh P thường xuyên cờ bạc, ăn nhậu say sỉn về quậy phá vợ con. Chị đã nhiều lần khuyên ngăn Anh P thay đổi để xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng Anh P không thay đổi.

Tháng 9/2018 chị có nộp đơn khởi kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con với Anh P tại Tòa án nhân dân huyện châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Tại Tòa án Anh P có năn nỉ chị rút đơn để vợ chồng đoàn tụ và hứa sẽ thay đổi nên chị đã rút đơn khởi kiện. Nhưng sau khi chị rút đơn về Anh P không những không thay đổi mà còn tiếp tục ăn chơi không lo cho gia đình, không quan tâm đến vợ con. Chị và Anh P ly thân từ tháng 09/2018 cho đến nay

Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, không thể gàn gắn lại được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với Anh P.

Về con chung của vợ chồng: Chị và Anh P chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Hồng P, sinh ngày 10/12/2017. Chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu Anh P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung: Không có.

Về án phí: Chị tự nguyện chịu tiền án phí HNGĐ–ST.

Bị đơn Anh Nguyễn Hồng P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do và không gửi cho Tòa án biên bản nếu ý kiến nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh trình bày:

Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa sơ thẩm dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về ý kiến giải quyết vụ án: Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cở sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con của Chị H, xử cho Chị Nguyễn Thị Diễm H và Anh Nguyễn Hồng P được ly hôn. Về con chung: Chị H tiếp tục nuôi dưỡng 01 con chung tên Nguyễn Hồng P, sinh ngày 10/12/2017, Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con do Chị H không yêu cầu. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết và nợ chung: không có. Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Bị đơn Anh Nguyễn Hồng P có nơi cư trú tại ấp L, xã V, huyện C, tỉnh Tây Ninh; quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp nuôi con nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Ngày 25/6/2019 nguyên đơn Chị Nguyễn Thị Diễm H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn Anh Nguyễn Hồng P được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt Chị H, Anh P.

Về quan hệ hôn nhân:

Chị H, Anh P chung sống với nhau từ năm 2017, có đăng ký kết hôn ngày 22/02/2017 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Chị H xác định từ khi bắt đầu về sống chung với nhau chị và Anh P luôn phát sinh mâu thuẫn và ly thân từ tháng 09/2018 cho đến nay. Nguyên nhân: Anh chị bất đồng quan điểm trong sinh hoạt gia đình, thường xuyên cãi vã, Anh P thường xuyên chơi cờ bạc, ăn nhậy say sỉn về quậy vợ con nên Chị H yêu cầu được ly hôn với Anh P. Anh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do và không gửi cho Tòa án văn bản nêu ý kiến nên không có lời trình bày.

Theo tài liệu xác minh tại địa phương thể hiện: Anh Nguyễn Hồng P có hộ khẩu thường trú tại tổ 1, ấp L, xã V, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Anh P thường xuyên vắng nhà và hiện nay không có cư trú tại địa phương nhưng không xác định được Anh P đi đâu vì khi đi Anh P không thông báo cho chính quyền địa phương biết.

. Về mâu thuẫn của vợ chồng: Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa Chị H và Anh P nhận thấy khi còn chung sống anh chị thường xuyên bất đồng quan điểm sống, hay cãi vã, nguyên nhân do Anh P thường xuyên cờ bạc, uống rượu, không quan tâm đến vợ con. Anh chị ly thân từ tháng 9/2018 cho đến nay.

. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa Chị H và Anh P thì Anh P đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Từ những phân tích trên xét thấy yêu cầu xin ly hôn của Chị H là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp ly hôn của Chị H xử cho Chị H và Anh P được ly hôn là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về con chung: Vợ chồng Chị H, Anh P chung sống có 01 người con chung tên Nguyễn Hồng P, sinh ngày 10/12/2017. Chị H yêu cầu nuôi con, không yêu cầu Anh P cấp dưỡng nuôi con. Anh P vắng mặt nên không có ý kiến. Xét về con chung thì thấy rằng từ ngày ly thân đến nay Chị H trực tiếp nuôi cháu P, tâm tư tình cảm của cháu P gắn liền với chị, chị rất quan tâm đến việc ăn học và tâm sinh lý của con chung, chị đảm bảo tốt các điều kiện nuôi con về mọi mặt; hơn nữa hiện nay cháu P chưa đủ 36 tháng tuổi, cháu còn nhỏ cần sự quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng, gần gũi trực tiếp của người mẹ. Ngược lại Anh P chưa quan tâm đến việc chăm sóc nuôi dưỡng con, do đó để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu P Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Chị H xử giao cháu P cho Chị H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con, do Chị H không yêu cầu là phù hợp với các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Sau khi ly hôn Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Chị H khai không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Do Chị Nguyễn Thị Diễm H là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Anh Nguyễn Hồng P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Chị Nguyễn Thị Diễm H, xử cho Chị Nguyễn Thị Diễm H và Anh Nguyễn Hồng P được ly hôn.

2. Về con chung: Giao 01 con chung tên Nguyễn Hồng P, sinh ngày 10/12/2017 cho Hương tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con do Chị H không yêu cầu. Sau khi ly hôn Anh P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Chị H khai không yêu cầu giải quyết, nên không đặt ra giải quyết.

4. Nợ chung: Chị H khai không nợ ai nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Diễm H phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0019490 ngày 22/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận Chị H đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Anh Nguyễn Hồng P không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ