- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hụi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lý H. Buộc anh Huỳnh Thế P và chị Phạm Thị Đ cùng có nghĩa vụ trả cho ông Lý H số tiền nợ hụi 20.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2019/DS-ST Ngày 07-8-2019 V/v tranh chấp hụi |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Dương Minh Út.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Công Đẳng.
Ông Trịnh Hữu Hiệp.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Lụa là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.
Ngày 07 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 75/2019/TLST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2019/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lý H, sinh năm 1944 (có mặt).
- Bị đơn: Anh Huỳnh Thế P (vắng mặt).
Chị Phạm Thị Đ (vắng mặt).
Cùng cư trú: Khóm 4, thị trấn M, huyện M, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24-4-2019 cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Lý H trình bày: Ông Lý H yêu cầu anh Huỳnh Thế P và chị Phạm Thị Đ trả cho ông số tiền hụi chết trong hai dây hụi với tổng số tiền 20.000.000 đồng. Cụ thể:
- Dây hụi thứ nhất: Mở ngày 15-02-2017 âl, loại hụi 2.000.000 đồng, mỗi tháng khui 01 kỳ, có 30 phần, anh P và chị Đ tham gia 01 phần. Đến ngày 15-4-2017 âl, vợ chồng anh P bỏ trúng hụi với giá 680.000 đồng, ông đã giao số tiền 38.640.000 đồng (đã trừ tiền hoa hồng cho chủ hụi 1.000.000 đồng). Sau khi hốt hụi, vợ chồng anh P đóng đến tháng 10-2018 âl thì ngưng, số tiền còn nợ lại từ tháng 11-2018 âl đến tháng 3-2019 âl là 10.000.000 đồng.
- Dây hụi thứ hai: Mở ngày 29-01-2018 âl, loại hụi 2.000.000 đồng, mỗi tháng khui 01 kỳ, có 37 phần, anh P và chị Đ tham gia 01 phần. Vợ chồng anh P bỏ trúng hụi kỳ khui đầu với giá 700.000 đồng, ông đã giao số tiền 45.800.000 đồng (đã trừ tiền hoa hồng cho chủ hụi 1.000.000 đồng). Sau khi hốt hụi, vợ chồng anh P đóng đến hết tháng 10-2018 âl thì ngưng, số tiền còn nợ lại từ tháng 11-2018 âl đến tháng 3-2019 âl là 10.000.000 đồng. Nay ông Lý H yêu cầu anh P và chị Đ trả số tiền nợ hai dây hụi tính đến tháng 3-2019 âl là 20.000.000 đồng.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn đúng theo quy định pháp luật nhưng anh P và chị Đ không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Anh Huỳnh Thế P và chị Phạm Thị Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên xem như từ bỏ quyền của mình tại phiên tòa. Vì vậy, Tòa án căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh P và chị Đ.
Về quan hệ pháp luật: Giao dịch dân sự giữa ông Lý H với anh Huỳnh Thế P và chị Phạm Thị Đ được xác định tại thời điểm thực hiện là hợp đồng hụi theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự.
Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của ông Lý H, thấy rằng:
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ anh P, chị Đ nhưng vẫn vắng mặt và không có văn bản phản bác nên xem như bị đơn từ bỏ quyền của mình và cố tình trốn tránh nghĩa vụ thanh toán nợ. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét: Văn bản “Giao kèo hùn vốn” ngày 15-02-2017 âl và ngày 29-01-2018 âl; “Giấy giao nhận tiền hùn vốn” ngày 25-4-2017 âl và ngày 09-02-2018 âl giữa ông H với anh P và chị Đ là hợp pháp và có căn cứ nên buộc các bên phải có nghĩa vụ thực hiện.
Quá trình tham gia hai dây hụi do ông H làm chủ hụi mở vào các ngày 15-02-2017 âl và ngày 29-01-2018 âl, anh P và chị Đ bỏ trúng hụi được hốt. Ông H đã giao tiền cho bị đơn vào các ngày 25-4-2017 âl và ngày 09-02-2018 âl, khi giao hụi có làm biên nhận. Sau khi hốt hai phần hụi, anh P và chị Đ đóng lại hụi chết đến hết tháng 10-2018 âl thì ngưng không đóng. Tính từ 11-2018 âl đến tháng 3-2019 âl, phía bị đơn còn nợ lại hụi chết chưa đóng với tổng số tiền là 20.000.000 đồng. Trong khoảng thời gian này ông H phải bỏ tiền ra đóng cho các hụi viên để tiếp tục duy trì giao dịch hụi. Vì vậy, ông H yêu cầu phía bị đơn thanh toán tổng số tiền nợ hụi 20.000.000 đồng tính đến tháng 3-2019 âl là có căn cứ nên được chấp nhận.
Tại phiên tòa, ông H chỉ yêu cầu phía bị đơn thanh toán từ tháng 11 năm 2018 âl đến tháng 3-2019 âl là phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận. Đối với khoản chưa thanh toán phát sinh kể từ tháng 4-2019 âl, nếu các bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thì ông H có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định pháp luật.
Như đã phân tích, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lý H. Buộc anh Huỳnh Thế P và chị Phạm Thị Đ cùng có nghĩa vụ trả cho ông Lý H số tiền hụi còn nợ lại của hai dây hụi nêu trên tính đến tháng 3-2019 âl là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí tòa án, anh P và chị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 5% tương ứng với số tiền theo yêu cầu của ông H được Tòa án chấp nhận. Cụ thể: 20.000.000 đồng x 5% = 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 147 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 471 của Bộ luật dân sự.
Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lý H. Buộc anh Huỳnh Thế P và chị Phạm Thị Đ cùng có nghĩa vụ trả cho ông Lý H số tiền nợ hụi 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).
Đối với khoản tiền phải thanh toán. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Huỳnh Thế P và chị Phạm Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), chưa nộp.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Ông Lý H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh Huỳnh Thế P và chị Phạm Thị Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện U Minh; - Chi cục THADS huyện U Minh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Dƣơng Minh Út |