- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 38/2018/HSST Ngày: 17/4/2018. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
---------- ----------
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỒNG XOÀI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Cao Đình Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Văn Thành, ông Đỗ Văn Kha.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đồng Xoài.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Lưu – Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đồng Xoài xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 104/2017/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2018/HSST-QĐ ngày 03 tháng 4 năm 2018 đối với các bị cáo:
* Bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Thanh T; Tên gọi khác: O; Sinh năm 1980; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp 1, xã LA, huyện CG, tỉnh LA; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 5/12; Con ông X – Sinh năm 1952 và bà Y (Đã chết); Bị cáo có vợ tên Z – Sinh năm 1975 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2013; Tiền sự: 01 (Ngày 12/9/2013 bị Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước ra Quyết định số 1704/QĐ-UBND đưa vào cơ sở giáo dục với thời gian là 24 tháng về hành vi trộm cắp tài sản, ngày 16/6/2015 thì chấp hành xong); Tiền án: Không; Bị cáo đang chấp hành án theo Bản án số 112/2017/HSST ngày 29/11/2017 của TAND huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Phạm Quốc Kh; Tên gọi khác: MV; Sinh năm 1982; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp BT, xã BT, huyện TB, tỉnh ĐT; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông U – Sinh năm 1952 và bà V – Sinh năm 1953; Bị cáo có vợ tên P– Sinh năm 1988 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo đang chấp hành án theo Bản án số 112/2017/HSST ngày 29/11/2017 của TAND huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Nguyên đơn dân sự: Công ty TNHH MTV.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Mỹ Ch - Sinh năm 1992 (Vắng mặt – Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Trú tại: Tổ 4, khu phố XD, phường TT, thị xã ĐX, tỉnh BP.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Lưu Trung H - Sinh năm: 1981 (Vắng mặt).
Trú tại: ấp 4, xã NB, huyện BD, tỉnh BP.
2/ Ông Tạ Văn Tr – Sinh năm: 1984 (Vắng mặt).
Trú tại: Khu phố PL, phường TP, thị xã ĐX, tỉnh BP.
3/ Bà Nguyễn Thị Thanh Th – Sinh năm: 1987 (Vắng mặt).
Trú tại: ấp 1, xã LA, huyện CG, tỉnh LA.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 05/4/2016 Nguyễn Thanh T rủ Phạm Quốc Kh đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài, Kh đồng ý. T cầm theo 01 cái mỏ lết và điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 64K8-7386 (xe T mượn của em gái là Nguyễn Thị Thanh Th) chở Kh đến bãi đất của Công ty TNHH MTV thuộc tổ 5, khu phố Tân Trà 2, phường Tân Bình, thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Tại đây, T và Kh phát hiện 01 xe ô tô biển kiểm soát: 93C - 06409 của Công ty TNHH MTV do Lưu Trung H điều khiển bị lật nằm nghiêng. Quan sát không có người trông coi, T đứng ngoài cảnh giới, còn Kh cầm mỏ lết lén lút đi đến mở 02 (Hai) bình ắc quy hiệu ROCKET150L-12V của xe ô tô chiếm đoạt đưa lên xe mô tô, T điều khiển xe mô tô chở Kh và 02 bình ắc quy trên đi tìm nơi cất giấu để tiêu thụ thì bị lực lượng Công an phường Tân Bình tuần tra phát hiện. T và Kh bỏ lại 02 bình ắc quy và xe mô tô biển kiểm soát: 64K8-7386 chạy bộ trốn thoát đến địa bàn huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai và thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản. Ngày 04/5/2017 T và Kh bị Công an huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai bắt khẩn cấp và khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản” (Bút lục: 67, 68, 79, 80; 94, 95).
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra thu giữ: 01xe mô tô biển số: 64K8-7386 và 02 (Hai) bình ắc quy hiệu Rocket 150L-12V, 01 mỏ lết không thu giữ được. Riêng 02 (Hai) bình ắc quy hiệu Rocket 150L-12V đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp (Bút lục: 118).
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 61/KLĐG ngày 10/5/2016 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Đồng Xoài kết luận:
- 02 (Hai) bình ắc quy điện nhãn hiệu ROCKET GB105L-12V; AMP.HR (20HR) 150; RC (MIN) 300; CCA (-18C)950, đang còn sử dụng tốt trị giá: 3.400.000 đồng (Ba triệu bốn trăm ngàn đồng) (Bút lục: 65).
Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm về phần trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 103/CTr–VKS ngày 29/9/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đồng Xoài đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh T, Phạm Quốc Kh về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đồng Xoài vẫn giữ nguyên quan điểm mà Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh T, Phạm Quốc Kh và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh T, Phạm Quốc Kh phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 09 đến 12 tháng tù và đề nghị Hội đồng xét xử tổng hợp với hình phạt 04 năm tù tại Bản án số 112/2017/HSST ngày 29/11/2017 của TAND huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai đối với bị cáo.
- Xử phạt bị cáo Phạm Quốc Kh từ 06 đến 09 tháng tù và đề nghị Hội đồng xét xử tổng hợp với hình phạt 03 năm 06 tháng tù tại Bản án số 112/2017/HSST ngày 29/11/2017 của TAND huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai đối với bị cáo.
Các bị cáo Nguyễn Thanh T, Phạm Quốc Kh thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát, lời trình bày của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Thanh T, Phạm Quốc Kh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng số 103/CTr–VKS ngày 29/9/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đã truy tố các bị cáo. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng vụ án cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa thấy phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, phương thức thực hiện tội phạm. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 05/4/2016 các bị cáo Nguyễn Thanh T và Phạm Quốc Kh thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 02 bình ắc quy điện nhãn hiệu ROCKET GB105L-12V của Công ty TNHH MTV trị giá: 3.400.000 đồng (Ba triệu bốn trăm ngàn đồng) tại tổ 5, khu phố Tân Trà, phường Tân Bình, thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thanh T và Phạm Quốc Kh đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và Hình phạt được quy định tại Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009.
Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, quá trình thực hiện tội phạm các bị cáo hoàn toàn làm chủ được hành vi của mình, nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân, muốn có tiền một cách nhanh chóng để phục vụ cho tiêu xài của bản thân mà các bị cáo đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi tội phạm.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác - khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần xét xử các bị cáo một mức án tù có thời hạn thật nghiêm khắc tương xứng với hành vi và hậu quả mà các bị cáo đã gây ra nhằm để răn đe, giáo dục các bị cáo và cũng là để làm tốt công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
Do đây là vụ án có đồng phạm nên cần phân tích, đánh giá hành vi và vai trò của từng bị cáo để làm cơ sở khi lượng hình.
Đối với bị cáo Nguyễn Thanh T: Bị cáo là người khởi xướng và rủ rê bị cáo Phạm Quốc Kh thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 02 bình ắc quy điện nhãn hiệu ROCKET GB105L-12V của Công ty TNHH MTV. Xét về nhân thân, bị cáo có một tiền sự, ngày 12/9/2013 bị cáo bị Chủ tịch UBND tỉnh Bình Phước ra Quyết định số 1704/QĐ-UBND đưa vào cơ sở giáo dục với thời gian là 24 tháng về hành vi trộm cắp tài sản, ngày 16/6/2015 thì chấp hành xong. Sau khi chấp hành xong quyết định đưa vào cơ sở giáo dục và trở về địa phương sinh sống, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Mặt khác, sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại địa bàn thị xã Đồng Xoài, bị cáo đã bỏ trốn và từ ngày 12/3/2017 đến ngày 03/5/2017 bị cáo đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản tại huyện Nhơn Trách, tỉnh Đồng Nai và đã bị TAND huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 năm tù về tội trộm cắp tài sản tại Bản án số 112/2017/HSST ngày 29/11/2017, điều này chứng tỏ bị cáo là người rất coi thường pháp luật, coi thường tài sản của người khác. Vì vậy cần phải xét xử bị cáo một mức án tù có thời hạn thật nghiêm khắc theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự để răn đe, giáo dục bị cáo trong môi trường có sự quản lý của Nhà nước, để sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống, bị cáo biết làm ăn lương thiện, sống tôn trọng pháp luật, tôn trọng tài sản của người khác và cũng là để làm tốt công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung.
Tuy nhiên, cũng cần phải xém xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự nên cần được áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Do bị cáo hiện nay đang chấp hành hình phạt 04 năm tù tại Bản án số 112/2017/HSST ngày 29/11/2017 của TAND huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai nên cần phải áp dụng Điều 51 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt tù tại các bản án đối với bị cáo.
Đối với bị cáo Phạm Quốc Kh: Bị cáo là người thực hành trong vụ án, chính bị cáo là người trực tiếp thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 02 bình ắc quy điện nhãn hiệu ROCKET GB105L-12V của Công ty TNHH MTV. Sau khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại địa bàn thị xã Đồng Xoài, bị cáo đã bỏ trốn và từ ngày 12/3/2017 đến ngày 03/5/2017 bị cáo đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản tại huyện Nhơn Trách, tỉnh Đồng Nai và đã bị TAND huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản tại Bản án số 112/2017/HSST ngày 29/11/2017, điều này chứng tỏ bị cáo là người rất coi thường pháp luật, coi thường tài sản của người khác. Vì vậy cũng cần phải xét xử bị cáo một mức án tù có thời hạn thật nghiêm theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự để răn đe, giáo dục bị cáo trong môi trường có sự quản lý của Nhà nước, để sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống, bị cáo biết làm ăn lương thiện, sống tôn trọng pháp luật, tôn trọng tài sản của người khác và cũng là để làm tốt công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung.
Tuy nhiên, cũng cần phải xém xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự nên cần được áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Do bị cáo hiện nay đang chấp hành hình phạt 03 năm 06 tháng tù tại Bản án số 112/2017/HSST ngày 29/11/2017 của TAND huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai nên cần phải áp dụng Điều 51 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt tù tại các bản án đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyên đơn dân sự đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm về phần trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xử lý.
Về vật chứng vụ án:
01 (Một) xe mô tô biển số: 64K8-7386 là của bà Nguyễn Thị Thanh Th cho bị cáo Nguyễn Thanh T mượn đi, bà Th không biết việc bị cáo Nguyễn Thanh T dùng vào việc phạm tội nên cần tuyên trả lại cho bà Nguyễn Thị Thanh Th.
Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T (Tên gọi khác: O), Phạm Quốc Kh (Tên gọi khác: MV) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 138; Điều 45; Điều 20; Điều 53; Điều 33; điểm g, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng Điều 51 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009, tổng hợp với hình phạt 04 (Bốn) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 112/2017/HSST ngày 29/11/2017 của TAND huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải chấp hành hình phạt chung cho các tội “Trộm cắp tài sản” tại các bản án là 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 04/5/2017.
- Áp dụng khoản 1 Điều 138; Điều 45; Điều 20; Điều 53; Điều 33; điểm g, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009, xử phạt bị cáo Phạm Quốc Kh 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng Điều 51 Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009, tổng hợp với hình phạt 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 112/2017/HSST ngày 29/11/2017 của TAND huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Buộc bị cáo Phạm Quốc Kh phải chấp hành hình phạt chung cho các tội “Trộm cắp tài sản” tại các bản án là 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 04/5/2017.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Nguyên đơn dân sự không yêu cầu gì thêm về phần trách nhiệm dân sự đối với các bị cáo nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xử lý.
4. Về vật chứng của vụ án:
Áp dụng Điều 42 của Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015:
Tuyên trả 01xe mô tô biển số: 64K8-7386 cho bà Nguyễn Thị Thanh Th.
(Số vật chứng trên đã được chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đồng Xoài theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0001536, Quyển số 0031 ngày 29/9/2017 giữa Công an thị xã Đồng Xoài với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đồng Xoài).
5. Về án phí:
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự và những có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước; - VKSND tỉnh Bình Phước; - VKSND thị xã Đồng Xoài; - Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đồng Xoài; - Nhà tạm giữ Công an thị xã Đồng Xoài; - Chi cục THADS thị xã Đồng Xoài; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước; - Phòng PV 27 Công an tỉnh Bình Phước; - Người tham gia tố tụng; - Lưu Hồ sơ vụ án – Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa CAO ĐÌNH THÀNH |