vanban.org

Bản án 38/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Gò Công, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 30/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015. Xử: Phạt bị cáo Nguyễn Hữu M 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 12/6/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN HỮU M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ GÒ CÔNG
TỈNH TIỀN GIANG.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38 /2017/HSST;
Ngày: 30/8/2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Công.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Trần Văn Lời.

2/ Ông Võ Văn Công.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Hóa – Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 8 năm 2017 lúc 08 giờ, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33 /HSST ngày 06 tháng 8 năm 2018, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hữu M (tên gọi khác: BĐ), sinh ngày 20/02/1996, tại huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang.

Nơi cư trú: Ấp Giồng Lãnh M, xã TH, huyện GCĐ, tỉnh Tiền Giang; giấy CMND: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; con của ông Nguyễn Văn C và bà Lê Thị V; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Không; ngày tạm giữ: 12/6/2018; tạm giam ngày 15/6/2018, bị cáo Nguyễn Hữu M có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

Dương Quốc Kh, sinh năm 1972;

Cư trú: Khu phố B, phường M, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Nguyễn Trường G, sinh năm 2000;

Cư trú: Ấp LP, xã LC, thị xã GC, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bản cáo trạng số 36 /CT-VKSTXGC ngày 03 tháng 8 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Nguyễn Hữu M về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ, ngày 05/12/2017, Nguyễn Hữu M, sinh ngày 20/02/1996, ngụ ấp GiL M, xã TH, huyện GCĐ , tỉnh Tiền Giang chở Nguyễn Thiện Tr, sinh năm 1992, ngụ ấp LM, xã LC thị xã GC, tỉnh Tiền Giang bằng xe mô tô nhãn hiệu Luvias màu trắng của Nguyễn Hữu M (không rõ biển số) chạy lòng vòng thị xã Gò Công chơi. Đến khoảng 21 giờ (cùng ngày), cả hai ghé vào nhà người bạn tên Nguyễn Minh D (BN), sinh năm 1993, ngụ số 70 khu phố B, Phường M, thị xã G chơi. Tại đây, Nguyễn Thiện Tr phát hiện 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Exciter mang biển kiểm sóat 63B6-136.63 của ông Dương Quốc Kh, sinh năm 1972, ngụ số 50 khu phố B, Phường M, thị xã G đang dựng trước cửa nhà, không có người trông coi, chìa khóa còn ghim trên ổ khóa xe nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Do lúc này người dân đi đường đông nên Nguyễn Thiện Tr không thực hiện mà rủ Nguyễn Minh D đi lòng vòng chơi. Trong thời gian chạy lòng vòng, Nguyễn Thiện Tr rủ Nguyễn Hữu M cùng trộm xe mô tô thì Nguyễn Hữu M đồng ý. Sau đó, cả hai chạy trước bỏ lại Nguyễn Minh D, rồi quay trở lại nơi để xe, Nguyễn Thiện Tr đi bộ đến lấy trộm xe mô tô của ông Dương Quốc Kh rồi nổ máy chạy đi. Trong lúc Trọng lấy xe, Nguyễn Hữu M nói chuyện với người ngồi gần đó để Nguyễn Thiện Tr dễ dàng lấy xe đi. Sau khi Nguyễn Thiện Tr lấy được xe chạy đi thì Nguyễn Hữu M cũng điều khiển xe chạy theo sau. Nguyễn Thiện Tr điều khiển chạy đến nhà Nguyễn Trường Giang, sinh ngày 16/02/2000, ngụ ấp LP, xã LC, thị xã GC gửi. Sau đó, Nguyễn Thiện Tr nhờ một người bạn tên Đầu B (không rõ tên họ cụ thể) chở đi huyện CĐ, tỉnh Long An, Đầu B đồng ý.

Đến khoảng 23 giờ (cùng ngày), Nguyễn Thiện Tr liên lạc và gặp Nguyễn Hữu M tại huyện Cần Đước. Nguyễn Thiện Tr điện thoại nhờ Nguyễn Trường G đem xe đến huyện CĐ cho Nguyễn Thiện Tr. Nguyễn Trường G cùng một người anh mang xe đến huyện CĐ cho Nguyễn Thiện Tr. Đầu B chở Nguyễn Trường G và anh của Nguyễn Trường G về lại Tiền Giang. Nguyễn Thiện Tr lấy được rồi cùng đem xe đi bán. Sau đó, Nguyễn Thiện Tr điều khiển xe của Nguyễn Hữu M, Nguyễn Hữu M điều khiển xe mô tô 63B6-136.63 đi đến khu TS thuộc Quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Nguyễn Hữu M liên lạc với một thanh niên tên Ph khoảng 30 tuổi (không rõ lai lịch) để bán xe với giá 6.500.000 đồng, cả hai tiêu xài cá nhân hết. Cơ quan Cảnh sát điều tra không thể thu hồi được chiếc xe trên.

Theo Kết luận định giá số 46 ngày 02/01/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thị xã Gò Công thì xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter biển số 63B6-136.63 có giá trị là 16.000.000 đồng.

Nguyễn Trường G là cháu ruột gọi Nguyễn Thiện Tr là chú. Nguyễn Thiện Tr đến gửi nhờ xe ở nhà của Nguyễn Trường G và có nhờ Nguyễn Trường G đưa xe đến huyện CĐ thì Nguyễn Trường G không biết nguồn gốc xe do trộm cắp mà có. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thị xã Gò Công không truy cứu trách nhiệm hình sự với Nguyễn Trường G là có cơ sở.

Đầu B là người chở Nguyễn Thiện Tr đến huyện CĐ, tỉnh Long An. Anh N là người đi cùng với Nguyễn Trường G mang xe đến huyện CĐ cho Nguyễn Thiện Tr. Cả hai không biết sự việc Nguyễn Thiện Tr đã trộm cắp tài sản và chuẩn bị đem xe đi bán. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Gò Công không truy cứu trách nhiệm hình sự là có cơ sở.

Đối với Nguyễn Thiện Tr đã bị Tòa án nhân dân thị xã Gò Công xét xử ngày 27/6/2018, tại bản án số 23/2018/HSST, áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Đối với mô tô nhãn hiệu Luvias màu trắng mà bị can sử dụng là của Nguyễn Hữu M mua lại của người khác không có giấy tờ, không có biển số, bị can gắn biển số giả để sử dụng. Trong thời gian ở thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Hữu M bị Cảnh sát giao thông bắt rồi bỏ xe lại và bỏ đi, địa điểm bị bắt xe hiện nay không nhớ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ được xe.

* Về trách nhiệm dân sự:

Tại biên bản thỏa thuận dân sự vào ngày 22/3/2018 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Gò Công, ông Dương Quốc Kh yêu cầu Nguyễn Thiện Tr bồi thường số tiền 20.000.000 đồng do không thu hồi được xe. Nguyễn Thiện Tr đồng ý và đã bồi thường xong cho ông Dương Quốc Kh số tiền 20.000.000 đ (hai mươi triệu đồng). Sau khi nhận đủ tiền, ông Dương Quốc Kh không yêu cầu gì thêm. Hiện tại, Nguyễn Thiện Tr không có mặt ở địa phương nên chưa xác định được Nguyễn Thiện Tr có yêu cầu bị cáo Nguyễn Hữu M hoàn trả lại một phần số tiền mà Tr đã bồi thường cho ông Kh hay không. Nếu sau này Nguyễn Thiện Tr có yêu cầu thì giải quyết bằng 01 vụ kiện dân sự khác.

Đối với Nguyễn Thiện Tr thì Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử vào ngày 27/6/2018 tại bản án số 23/2018/HSST.

Đối với bị cáo Nguyễn Hữu M sau khi phạm tội đã bỏ trốn khỏi địa phương. Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thị xã Gò Công ra Quyết định truy nã bị can Nguyễn Hữu M, cho đến ngày 12/6/2018 hồi 15 giờ Nguyễn Hữu M bị bắt truy nã.

Trong vụ trộm xe mô tô thì Nguyễn Thiện Tr là người trực tiếp thực hiện nên đóng vai trò chính; còn bị cáo M ngồi gần đó quan sát để cho Tr dễ dàng lấy xe, nên đóng vai trò đồng phạm.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung Cáo trạng số 36/CT-VKSTXGC ngày 03/8/2018 truy tố bị cáo Nguyễn Hữu M về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Phạt bị cáo Nguyễn Hữu M từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng không có ý kiến khác về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo Nguyễn Hữu M nói lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, hứa không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Gò Công, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gò Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo M có thừa nhận nội dung của Cáo trạng truy tố hành vi phạm tội bị cáo là đúng và khai thêm rằng: Số tiền bán xe mô tô đã trộm được 6.500.000 đồng, do Tr giữ tiền khi chi tiêu sử dụng thì chi chung cho 02 người.

Xét thấy, lời nhận tội của bị cáo Nguyễn Hữu M có phù hợp với lời khai của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và biên bản khám nghiệm hiện trường.

Do đó, Hội đồng xét xử đã có đầy đủ chứng cứ chứng minh hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu M phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc tù từ sáu tháng đến ba năm;“.

Hành vi phạm tội của bị cáo M thấy có nguy hiểm cho xã hội, bởi vì vào khoảng 21 giờ ngày 05/12/2017 tại khu phố 3, phường 1, thị xã Gò Công, Nguyễn Thiện Tr và bị cáo Nguyễn Hữu M đã lén lúc cùng thực hiện tội phạm, Nguyễn Thiện Tr đóng vai trò chính, còn bị cáo M vai trò đồng phạm.

Tài sản chiếm đoạt là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, biển số 63B6-136.63 có giá trị theo kết luận của Hội đồng định giá là 16.000.000 đ (mười sáu triệu đồng).

Đồng thời hành vi ấy còn gây mất trật tự trị an ở địa phương nơi xảy ra tội phạm và làm cho nhân dân rất bất bình.

Xét về động cơ, mục đích phạm tội, xét thấy bị cáo M có đủ nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng vì tư lợi cá nhân, có tính tham lam, lười biếng lao động chân chính và xem thường pháp luật, từ đó mà bị cáo mới vấn thân vào con đường phạm tội.

Bị cáo M phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

Xét về nhân thân, thấy Bị cáo M không có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phạm Bị cáo M có thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có ông ngoại tên Lê Văn M1 được tổ quốc ghi công là Liệt sĩ. Cho nên Hội đồng xét xử có xem xét cho Bị cáo M được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Vì thế, cần phải có một hình phạt nghiêm khắc tương ứng với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cần phải cách ly Bị cáo M ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Khi đương sự Nguyễn Thiện Tr có yêu cầu khởi kiện Nguyễn Hữu M, thì Tòa án thụ lý, giải quyết thành vụ án dân sự khác.

Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có phù hợp với phần nhận định đã nêu trên, cho nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẻ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử: Phạt bị cáo Nguyễn Hữu M 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 12/6/2018.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Nguyễn Hữu M phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với bị hại và người có liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Án tuyên kết thúc cùng ngày.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ