vanban.org

Bản án 38/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hội An, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 12/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị G (tên gọi khác là V) phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị G 01(Một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/11/2018). Giao bị cáo G cho Ủy ban nhân dân phường Cửa Đại, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị G (tên gọi khác là V) phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỘI AN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2018/HS.ST
Ngày 12.11.2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Bích Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Phạm Thị Kim Loan.

2/ Ông Lê Tấn Hoành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ba, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Bích, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2018/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2018/ QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2018, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị G (tên gọi khác là V), sinh năm 1968, tại Quảng Nam; nơi cư trú: Tổ 2, khối Phước Hải, phường Cửa Đại, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: lao động phổ thông; trình độ học vấn: 3/12; con ông Nguyễn Văn L (sinh năm 1942) và bà Dương Thị L (sinh năm 1943); có chồng là Nguyễn Văn Th (sinh năm 1963) và 02 con (con lớn nhất 26 tuổi, con nhỏ nhất 18 tuổi); tiền án, tiền sự: không; bị cáo hiện đang được áp dụng biện ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Huỳnh Thị Minh A, sinh năm 1989; địa chỉ: Số… đường Cửa Đại, phường Cửa Đại, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.(Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do hay bị mất tiền và nghi ngờ nhân viên nhà hàng lấy trộm nên chị Huỳnh Thị Minh A, chủ nhà hàng Vòng Tròn đã lắp đặt camera trong phòng nghỉ và dùng điện thoại chụp lại số sê-ri của các tờ tiền. Sáng ngày 08/6/2018, chị A để số tiền 30.000.000 đồng, gồm 40 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 70 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 100.000 đồng và 200.000 đồng nhưng không rõ số tờ vào hộp nhựa có nắp đậy rồi cất vào tủ. Sáng ngày 09/6/2018, chị A dùng điện thoại di động chụp số sê-ri trên 40 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng rồi đặt lại vị trí cũ. Trưa cùng ngày, chị A lấy một số tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng trong hộp nhựa ra trả cho khách rồi sau đó để lại đủ 40 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, nhưng không chụp số sê-ri của các tờ tiền mới bỏ vào này. Đến chiều ngày 11/6/2018, chị A phát hiện tiền trong hộp nhựa bị mất 29.300.000 đồng, gồm các tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 200.000 đồng và 100.000 đồng. Kiểm tra hình ảnh do camera ghi lại, chị A thấy bị cáo Nguyễn Thị G là người vào phòng nghỉ của chị và dùng tay tắt điện trong phòng. Do bị cáo G không chịu thừa nhận nên ngày 16/6/2018, chị A đã báo với Công an phường Cẩm Châu về sự việc mất trộm. Tại Công an phường Cẩm Châu, bị cáo G thừa nhận đã trộm cắp tiền của chị A tại Nhà hàng Vòng Tròn 2 lần: chiều ngày 07/6/2018, trộm cắp 4.500.000 đồng; chiều ngày 11/6/2018, trộm 9.500.000 đồng (gồm 11 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 15 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 10 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng), chứ không thừa nhận trộm cắp số tiền 29.300.000 đồng như chị A khai báo. Kiểm tra nơi ở bị cáo, Công an phường Cẩm Châu đã tạm giữ số tiền 49.900.000 đồng, gồm 91 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 22 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hội An tiếp tục tạm giữ của bị cáo 354.000 đồng, 01 túi xách bằng da màu đen, kích thước (22x28)cm, đã qua sử dụng, 01 ví màu xám có chữ “Supreme”, 01 quần vải màu đen và 01 áo sọc đỏ đen, đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra, kiểm tra đối chiếu số se-ri của 91 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng đã tạm giữ của bị cáo G thì thấy có 13 tờ tiền có số sê-ri trùng với số sê-ri 13 hình ảnh tờ tiền trong số 40 hình ảnh tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng mà chị A đã chụp lại trong điện thoại (theo biên bản kiểm tra hình ảnh chụp trong điện thoại di động vào ngày 21/9/2018) gồm các tờ tiền có số sê-ri sau: AK 16212939; BV 15610355; KL 15273656; QP 14008321; ON 15228906; YY 15668683; IQ 10571632; NC 09840725; ZJ 16462828; SK 11907121; OQ 17972362; DY 08973645; ZY 15356688.

Tại bản Cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 22 tháng 10 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị G về tội “Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b,i khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo G từ 9 đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 36 tháng. Bị cáo Nguyễn Thị G rất ăn năn hối lỗi; đồng thời mong Hội đồng xét xử xem xét, cho bị cáo được hưởng án treo. Bị hại thống nhất với nội dung cáo trạng và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hội An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và truy tố, bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị G đã khai nhận: Để có tiền tiêu xài cho mục đích cá nhân, lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu, vào chiều ngày 07/6/2018, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt của chị Huỳnh Thị Minh A số tiền là 4.500.000 đồng; vào chiều ngày 11/6/2018, chiếm đoạt số tiền 9.500.000 đồng (gồm 11 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 15 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 10 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng). Tổng số tiền bị cáo đã chiếm đoạt chỉ 14.000.000 đồng chứ không thừa nhận trộm cắp số tiền 29.300.000 đồng như chị Anh khai báo. Bị cáo khai chỉ lấy 11 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, nhưng khi đối chiếu số se-ri của 91 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng đã tạm giữ của bị cáo G thì thấy có 13 tờ tiền có số sê-ri trùng với số sê-ri 13 hình ảnh tờ tiền trong số 40 hình ảnh tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng mà chị A đã chụp lại trong điện thoại. Như vậy, thấy rằng lời khai của bị cáo là không thành khẩn và có cơ sở để khẳng định hành vi trên đây của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:

Tội phạm mà bị cáo gây ra xâm phạm tài sản của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo vệ. Bị cáo Nguyễn Thị G đã nhận thức được rằng việc chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật. Nhưng vì tham lam, muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà không cần bỏ sức lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo cũng đã tự nguyện nộp 14.000.000 đồng để bồi thường thiệt hại cho bị hại. Tại phiên tòa hôm nay, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo có người thân có công cách mạng. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đây là những tình tiết được Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ cho bị cáo một phần mức hình phạt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo Nguyễn Thị G phạm tội ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Do đó, không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho hưởng án treo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội và không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo G chấp nhận bồi thường cho bị hại Huỳnh Thị Minh A số tiền 29.300.000 đồng (Hai mươi chín triệu ba trăm nghìn đồng). Bị cáo đã tự nguyện thi hành khoản tiền 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 005980 ngày 19/10/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hội An. Bị cáo cũng tự nguyện trả số tiền là 15.300.000 đồng (Mười lăm triệu ba trăm nghìn đồng) trong số tiền đang bị tạm giữ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

Tuyên trả cho chị Huỳnh Thị Minh A 02 hộp nhựa màu trắng trong suốt, đường kính 12cm, chiều cao 7,5cm, dưới đáy hộp nhựa có chữ “Tân Hiệp Hưng”, mỗi hộp nhựa đều có nắp đậy bằng nhựa trong suốt, bên trên nắp hộp nhựa có dòng chữ “Tân Hiệp Hưng”;

Tuyên trả cho bị cáo Gái 01 túi xách bằng da màu đen, đã qua sử dụng, kích thước (22x28)cm; 01 ví màu xám có chữ “Supreme”; 01 quần vải màu đen; 01 áo sọc đỏ đen, đã qua sử dụng và số tiền 34.954.000 đồng (Ba mươi bốn triệu chín trăm năm mươi bốn nghìn đồng) do không liên quan đến việc phạm tội, nhưng đề nghị tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án;

Đối với 09 bức ảnh màu ghi lại hình ảnh bị cáo G vào phòng nghỉ chị Anh trộm cắp tài sản trích từ camera quan sát; 21 tờ giấy A4 có in hình trắng đen số sê-ri các tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 01 USB màu đỏ, đen hiệu SanDisk đề nghị lưu theo hồ sơ vụ án.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Việc bị cáo G tự nhận ngày 07/6/2018 đã trộm cắp số tiền 4.500.000 đồng của chị A tại nhà hàng Vòng Tròn, chị A khai không bị mất tiền trong ngày này nên không có căn cứ để truy cứu trách nhiệm đối với bị cáo.

Đối với vụ trộm cắp tài sản ngày 04/6/2018 mà bị hại A trình báo, do không có cơ sở truy cứu trách nhiệm đối với bị cáo G nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hội An tách ra tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị G (tên gọi khác là V) phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i khoản 1; khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị G 01(Một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/11/2018).

Giao bị cáo G cho Ủy ban nhân dân phường Cửa Đại, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Thị G phải trả cho chị Huỳnh Thị Minh A số tiền là 29.300.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên trả cho chị Huỳnh Thị Minh A 02 hộp nhựa màu trắng trong suốt, đường kính 12cm, chiều cao 7,5cm, dưới đáy hộp nhựa có chữ “Tân Hiệp Hưng”, mỗi hộp nhựa đều có nắp đậy bằng nhựa trong suốt, bên trên nắp hộp nhựa có dòng chữ “Tân Hiệp Hưng”;

Tuyên trả cho bị cáo G 01 túi xách bằng da màu đen, đã qua sử dụng, kích thước (22x28)cm; 01 ví màu xám có chữ “Supreme”; 01 quần vải màu đen; 01 áo sọc đỏ đen, đã qua sử dụng và số tiền 34.954.000 đồng (Ba mươi bốn triệu chín trăm năm mươi bốn nghìn đồng) do không liên quan đến việc phạm tội, nhưng đề nghị tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 09 bức ảnh màu ghi lại hình ảnh bị cáo G vào phòng nghỉ chị A trộm cắp tài sản trích từ camera quan sát; 21 tờ giấy A4 có in hình trắng đen số sê-ri các tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 01 USB màu đỏ, đen hiệu SanDisk đề nghị lưu theo hồ sơ vụ án.

(Vật chứng và tiền hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Hội An theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09.11.2018; số tiền hiện đang tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước tại tài khoản số: 3949.0.9043934.00000 của Công an thành phố Hội An theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 20.9.2018 và theo biên lai thu tiền số 005980 ngày 19/10/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hội An).

Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Thị G phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Thị G, bị hại Huỳnh Thị Minh A có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (12/11/2018).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ