- Tranh chấp gì? án hành chính — "LƯU VĂN A - UBND TỈNH Đ"
- Tòa quyết gì? Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Văn A về yêu cầu:
- Căn cứ chính? Điều 31 Nghị định số 102/2014/NĐ-CP Về xử phạt vi phạm hành chính tr…; Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; Điều 105 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2018/HC-ST Ngày: 17-10-2018. V/v: 1. Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai. 2. Khiếu kiện quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. 3. Khiếu kiện quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Doãn Đình Quyến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Thế Hòa
2. Bà Võ Thị Liên
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thê - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Mỹ Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 47/2018/TLST-HC ngày 04/5/2018 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính; quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực quản lý đất đai”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2018/QĐXXST-HC ngày 05/9/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2018/QĐST-HC ngày 25/9/2018 giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Ông Lưu Văn A – Địa chỉ: Thôn P, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (có mặt).
2. Người bị kiện:
2.1. Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Đ– Địa chỉ: 09 Lê Duẩn, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Ngọc N - Chủ tịch UBND tỉnh Đ. (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Văn C – Phó chủ tịch UBND tỉnh Đ. Văn bản ủy quyền ngày 22/5/2018. (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND tỉnh Đ: Ông Trần Đình N1– Phó giám đốc Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ. (có mặt).
2.2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K: Ông Y S - Địa chỉ: Tổ dân phố 2, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND huyện K: Ông Nguyễn Hùng Thi - Phó chủ tịch UBND huyện K. Văn bản ủy quyền ngày 10/9/2018. (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch UBND huyện K: Ông Phan Xuân L – Phó trưởng phòng Tài nguyên và môi trường huyện K. (có mặt).
2.3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã K1: Ông Mai Kim H – Địa chỉ: Thôn C, Xã K1, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thỏa H1 – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã K1, huyện K, tỉnh Đ. Văn bản ủy quyền ngày 13/4/2018. (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Chi cục thủy sản tỉnh Đ
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T – Chi cục trưởng Chi cục thủy sản tỉnh Đ. (có mặt).
Địa chỉ: số 48 đường L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
3.2. Bà Võ Thị Mỹ H2 - Địa chỉ: Thôn P, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, người khởi kiện ông Lưu Văn A trình bày:
Vào năm 1995, ông Lưu T có nhận một chuyển nhượng của một người Ê Đê diện tích 7300m2 đất rẫy, tại khu vực suối Đĩa và được UBND huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó tặng cho lại ông Lưu Văn A tiếp tục quản lý sử dụng.
Tại Quyết định 1992/QĐUB ngày 01/8/2005, Ủy ban nhân dân huyện K về việc thu hồi đất của các hộ trong phạm vi giải tỏa để xây dựng công trình hồ chứa nước Krông Búk Hạ, trong đó có phần diện tích đất trên.
Tại công văn trả lời giải quyết khiếu nại số 334/CV-UB ngày 25/10/2005 của UBND Huyện K về giải quyết đất bãi vật liệu hồ chứa nước trả:
“Đối với các hộ bị thu hồi đất để xây dựng hồ chứa nước Krông Búk hạ sau khi làm đập xong thì xem xét hỗ trợ cho bà con được nhận đất làm lại”. Đến năm 2013 đã xong đập, gia đình tôi và các hộ dân nghe xã thông báo trả đất thì chúng tôi bỏ tiền san lấp và canh tác.
Sau 2 vụ đến ngày 12/02/2015, UBND tỉnh lấy đất cấp cho Chi cục thủy sản với diện tích đất 196209m2, trong đó có đất của gia đình ông A.
Đến ngày 09/01/2018, Chủ tịch UBND huyện K ra quyết định số 29/QĐ-CCXP về việc cưỡng chế buộc ông A phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.
Vì vậy, ông A làm đơn khởi kiện đến TAND tỉnh Đắk Lắk đề nghị:
- Hủy bỏ Quyết định số 186/QĐ-UBND ngày 11/12/2017 về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả ((sau đây gọi tắt là quyết định số 186) của Chủ tịch UBND xã K1.
- Hủy bỏ Quyết định số 29/QĐ-CCXP ngày 09/01/2018 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả (sau đây gọi tắt là quyết định số 29); của Chủ tịch UBND huyện K.
- Hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất (Sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) số 821589 và số 821588, cấp ngày 12/02/2015 của UBND tỉnh Đ cấp cho Chi cục thủy sản để cấp lại đất cho gia đình ông theo tinh thần công văn số 334/CV-UB ngày 25/10/2005 của ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền của Người bị kiện là UBND tỉnh Đ trình bày:
- Về nguồn gốc sử dụng đất: Phần diện tích 6202,6 m2 và 196209,4 m2 đất đã được UBND tỉnh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nằm trong phần diện tích đất đã được UBND tỉnh giao cho Ban quản lý đầu tư và xây dựng thủy lợi 8 để làm bãi vật liệu đất đắp đập phục vụ công trình thủy lợi Hồ chứa nước Krông Búk Hạ, tại Quyết định số 1720/QĐ-UBNĐ ngày 25/7/2007. Đến ngày 09/12/2014, UBND tỉnh thu hồi 202.412 m2 đất tại xã K1, huyện K của Ban Quản lý đầu tư và xây dựng thủy lợi 8 và giao cho Chi cục Thủy sản - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng công trình Trung tâm giống thủy sản cấp tỉnh, tại Quyết định số 2947/QĐ-UBND ngày 09/12/2014.
- Về trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Ngày 15/01/2015, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh Đắk Lắk (nay là Văn phòng đăng ký đất đai) nhận được hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Chi cục Thủy sản, địa chỉ: Đường C, phường A, thành phố B (vào sổ tiếp nhận hồ sơ số 22 và 23, quyển số 01) đối với thửa đất số 108, tờ bản đồ số 53, diện tích 196209,4 m2, đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp khác và thửa đất số 109, tờ bản đồ số 53, diện tích 6202,6 m2, đất sử dụng vào mục đích xây dựng trụ sở cơ quan tại xã K1, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Căn cứ quy định tại Khoản 1, Điều 99 Luật Đất đai năm 2013, trường hợp nêu trên đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó vào ngày 02/02/2015 Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh kiểm tra, xác nhận vào đơn đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định và trình Sở Tài nguyên và Môi trường ký Giấy chứng nhận theo ủy quyền.
Ngày 12/02/2015, thừa ủy quyền của Chủ tịch UBND tỉnh Đ, Giám đốc Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liên với đất số BQ 821589 đối với thửa đất số 108, tờ bản đồ số 53, diện tích 196209,4 m2 và số BQ 821588 đối với thửa đất số 109, tờ bản đồ số 53, diện tích 6202,6 m2 cho Chi cục Thủy sản tại xã K1, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Hiện nay, ông Lưu Văn A có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk hủy hai GCNQSDĐ trên là không có cơ sở. Do đó, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk giữ nguyên giá trị pháp lý của hai GCNQSDĐ trên.
Người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện K trình bày:
Chi cục thủy sản thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đ được UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số: 2947/QĐ-UBND về việc thu hồi 202.412m2 đất tại xã K1, huyện K của Ban quản lý đầu tư và xây dựng thủy lợi 8; giao cho Chi cục thủy sản - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng công trình Trung tâm giống thủy sản cấp tỉnh.
Sau khi được UBND tỉnh giao đất, Chi cục Thuỷ sản đã triển khai công tác quản lý sử dụng và đầu tư xây dựng công trình thì bị các hộ dân ngăn cản, trong đó có hộ ông Lưu Văn A.
Ngày 13/9/2017, UBND xã K1 đã lập Biên bản vi phạm hành chính đối với ông Lưu Văn A.
Ngày 11/12/2017, Chủ tịch UBND xã K1 đã ban hành Quyết định số: 186/QĐ-UBND, về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông (bà) Lưu Văn A.
Sau khi hết thời hạn thi hành Quyết định trên, ông A không tự nguyện thực hiện. Ngày 09/01/2018, Chủ tịch UBND huyện đã ban hành Quyết định số: 29/QĐ-UBND, ngày 09/01/2018 của UBND huyện K về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp phục hậu quả đối với ông Lưu Văn A.
Các căn cứ ban hành Quyết định số: 29/QĐ-UBND, ngày 09/01/2018: Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ Quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ xề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; và các văn bản liên quan của UBND tỉnh Đ; Quyết định số: 186/QĐ-UBND, ngày 11/12/2017 của Chủ tịch UBND xã K1 về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Lưu Văn A, địa chỉ tại Thôn P, xã E, huyện K; Tờ trình số: 02/TTr-UBND ngày 03/01/2018 của Chủ tịch UBND xã K1 về việc báo cáo và đề nghị UBND huyện hỗ trợ áp dụng biện pháp cưỡng chế buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm và buộc trả lại đất đã lấn, chiếm thi công xây dựng công trình Trung tâm giống thủy sản cấp tỉnh tại xã K1, huyện K.
Do vậy, ông A khởi kiện yêu cầu hủy quyết định số 29 là không có cơ sở. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Người bị kiện Chủ tịch UBND xã K1 trình bày:
Diện tích khu đất dưới hạ lưu chân đập Krông Búk hạ (trong đó có đất ông Lưu Văn A) đã được UBND huyện K thu hồi bồi thường thiệt hại theo Quyết định số 1992/QĐ-UBND ngày 01/08/2005 về việc thu hồi đất của các hộ trong phạm vi giải tỏa để xây dựng công trình hồ chứa nước Krông Búk hạ.
Đến ngày 09/12/2014, UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 2947/QĐ- UBND về việc thu hồi 202.412 m2 đất tại xã K1, huyện K của Ban quản lý đầu tư và xây dựng thủy lợi 8 giao cho Chi cục Thủy sản - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình Trung tâm giống thủy sản cấp tỉnh.
Đến ngày 12/02/2015, Chi cục Thủy sản - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được Sở Tài nguyên và môi trường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 821588 diện tích 6186.6 m2 mục đích sử dụng: Đất xây dựng trụ sở cơ quan; và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 821589 diện tích 196209.4 m2 mục đích sử dụng: Đất nông nghiệp khác.
Tuy nhiên sau đó các hộ lại tiếp tục lấn chiếm, tái lấn chiếm đất khu vực xây dựng công trình Trung tâm giống thủy sản cấp tỉnh. Trong đó có hộ ông Lưu Văn A.
Ngày 13/9/2017, UBND xã K1 đã lập Biên bản vi phạm hành chính đối với ông Lưu Văn A.
Ngày 11/12/2017, Chủ tịch UBND xã K1 đã ban hành Quyết định số: 186/QĐ-UBND, về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Lưu Văn A.
Căn cứ theo khoản 3 điều 35, khoản 7 điều 36 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và thực hiện theo các văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh Đ, Sở Tư Pháp tỉnh, UBND huyện K; Luật đất đai năm 2013; Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Quyết định số 40/2016/QĐ- UBND ngày 01/12/2016 của UBND tỉnh Đ ban hành quy chế phối hợp của các cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, kiểm đếm bắt buộc, cưỡng chế thực hiện quyết định kiểm đếm bắt buộc và cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ bản đồ địa giới hành chính, phân ranh giới 364 giữa xã E với xã K1.
Vì vậy, Chủ tịch UBND xã K1 đã ban hành Quyết định số 186/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Lưu Văn A ngày 11/12/2017 của Chủ tịch UBND xã K1 là đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Do vậy, ông A khởi kiện yêu cầu hủy quyết định số 186 là không có cơ sở. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Người đại diện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi cục thủy sản trình bày:
- Đối với nội dung đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 821588 và số BQ 821589 cấp cùng ngày 12/02/2015 cho Chi cục Thủy sản:
+ Sau khi được UBND tỉnh giao 202.412m2 đất thuộc địa bàn xã K1, huyện K để thực hiện dự án đầu tư xây dựng Trung tâm giống thủy sản cấp tỉnh tại Quyết định số 2947/QĐ-UBND ngày 09/12/2014, Chi cục Thủy sản đã thực hiện các trình tự, thủ tục về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất số BQ 821588 và số BQ 821589 ngày 12/02/2015 theo ủy quyền của Chủ tịch UBND tỉnh.
Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thực hiện đúng trình tự, đầy đủ các thủ tục theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 và các quy định có liên quan. Do đó, Ông Lưu Văn A đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 821588 và số BQ 821589 đã cấp cho Chi cục Thủy sản là không có cơ sở.
- Đối với nội dung cấp đất cho Chi cục Thủy sản:
+ Chi cục Thủy sản là cơ quan hành chính nhà nước trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, được UBND tỉnh thành lập tại Quyết định số 564/QD-UBND ngày 13/3/2009.
+ Chi cục Thủy sản thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực thủy sản trên địa bàn tỉnh theo Quyết định số 293/QĐ-SNN ngày 02/02/2016 của Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
+ Dự án đầu tư xây dựng Trung tâm giống thủy sản được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 1961/QĐ-UBND ngày 25/8/2014 nhằm thực hiện các nhiệm vụ sự nghiệp nhà nước trong lĩnh vực giống thủy sản như: Lưu giữ gen, nhân giống mới, giống thuần cung cấp cho các trại giống và các hộ nuôi trồng trên địa bàn tỉnh, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để phát triển ngành thủy sản của tỉnh.
+ Do đó, Ông Lưu Văn A khởi kiện UBND tỉnh Đ về việc cấp đất cho Công ty Thủy sản là pháp nhân kinh doanh là không đúng, vì đất cấp cho Chi cục Thủy sản để thực hiện đầu tư xây dựng Trung tâm giống thủy sản cấp tỉnh nhằm thực hiện các nhiệm vụ nêu trên.
- Đối với nội dung đề nghị cấp lại đất cho người dân và gia đình Ông Lưu Văn A theo Công văn số 334/CV-UB ngày 25/10/2005 của UBND huyện K: Ngày 31/8/2015, UBND huyện K đã trả lời, giải thích các nội dung liên quan đến Công văn số 334/CV-UB cho các hộ dân tại Công văn số 746/UBND-TNMT. Đồng thời, UBND tỉnh cũng đã ban hành Công văn số 7247/UBND-NNMT ngày 01/10/2015 để trả lời kiến nghị của các hộ dân nêu trên liên quan đến Công văn số 334/CV-UB ngày 25/10/2005 của UBND huyện K.
Kính đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xem xét, giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Mỹ H2 trình bày:
Tôi là vợ của ông Lưu Văn A. Ngày 17/01/2018 chồng tôi có khởi kiện UBND tỉnh Đ, Chủ tịch UBND Huyện K, Chủ tịch UBND xã K1 với nội dung đề nghị Tòa án:
- Hủy bỏ quyết định số 186/QĐ-UBND ngày 11/12/2017 về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã K1, huyện K, tỉnh Đ.
- Hủy bỏ quyết định số 29/QĐ-CCXP ngày 09/01/2018 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả của Chủ tịch UBND huyện K, tỉnh Đ.
- Hủy bỏ Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ821588, và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ821589 do UBND tỉnh Đ cấp cho Chi cục Thủy sản ngày 12.02.2015.
Trong quá trình giải quyết vụ án, tôi xét thấy quyền lợi của tôi và chồng tôi là như nhau. Tôi thống nhất với quan điểm và ý kiến của chồng tôi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của Luật tố tụng hành chính trong quá trình giải quyết vụ án.
- Về nội dung:
- Xét nội dung khởi kiện của ông Lưu Văn A về việc: Hủy bỏ Quyết định số 186/QĐ-UBND ngày 11/12/2017 về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã K1, huyện K, tỉnh Đ; Hủy bỏ Quyết định số 29/QĐ- CCXP ngày 09/01/2018 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả của Chủ tịch UBND huyện K, tỉnh Đ là có căn cứ; Đối với yêu cầu hủy bỏ GCNQSDĐ số 821589 và GCNQSDĐ số 821588, cấp ngày 12/02/2015 do UBND tỉnh Đ cấp cho Chi cục thủy sản tỉnh Đ là không có căn cứ do vậy đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính 2015 chấp nhận một phần nội dung khởi kiện của ông Lưu Văn A. Tuyên hủy Quyết định số 186/QĐ-UBND ngày 11/12/2017 về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã K1, huyện K, tỉnh Đ và Quyết định số 29/QĐ-CCXP ngày 09/01/2018 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả của Chủ tịch UBND huyện K, tỉnh Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa; ý kiến trình bày của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thẩm quyền: Ông Lưu Văn A khởi kiện yêu cầu: Hủy bỏ Quyết định số 186 của Chủ tịch UBND xã K1, huyện K, tỉnh Đ; Hủy bỏ Quyết định số 29 của Chủ tịch UBND huyện K, tỉnh Đ; Hủy bỏ GCNQSDĐ số 821589 và GCNQSDĐ số 821588, cấp ngày 12/02/2015 do UBND tỉnh Đ cấp cho Chi cục thủy sản tỉnh Đ, là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính.
Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 12/02/2015, UBND tỉnh Đ cấp GCNQSDĐ số 821589 và GCNQSDĐ số 821588, cấp ngày 12/02/2015 do UBND tỉnh Đ cấp cho Chi cục thủy sản tỉnh Đ. Ngày 13/09/2017, UBND xã K1 tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với các hộ dân lấn chiếm, tái lấn chiếm đất khu vực xây dựng công trình Trung tâm giống thủy sản, trong đó có hộ ông Lưu Văn A. Ngày 11/12/2017, Chủ tịch UBND xã K1 ban hành quyết định số 186, về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả do có hành vi lấn chiếm, tái lấn chiếm đất khu vực xây dựng công trình Trung tâm giống thủy sản đối với ông Lưu Văn A. Sau khi nhận quyết định số 186, ông A mới được biết việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Chi cục thủy sản tỉnh Đ. Sau khi hết thời hạn thi hành Quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, ông A vẫn không tự nguyện thực hiện. Vì vậy, ngày 09/01/2018, Chủ tịch UBND huyện K ban hành Quyết định số 29, về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. Sau khi nhận được quyết định số 29, thì đến ngày 17/01/2018, ông A đã khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân là trong thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính.
Xét yêu cầu của ông Lưu Văn A về việc hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 821589 đối với thửa đất số 108, tờ bản đồ số 53, diện tích 196209,4 m2 và số BQ 821588 đối với thửa đất số 109, tờ bản đồ số 53, diện tích 6202,6 m2, cấp ngày 12/02/2015 do UBND tỉnh Đ cấp cho Chi cục thủy sản tỉnh Đ để cấp lại đất cho gia đình ông A theo tinh thần công văn số 334/CV-UB ngày 25/10/2005 của UBND huyện K, thì thấy rằng:
Về thẩm quyền và trình tự thủ tục ban hành:
Ngày 01/8/2005, UBND huyện K ban hành quyết định số 1992/QĐ-UB về việc thu hồi 1.066.968,0m2 đất của 175 hộ sử dụng đất tại Buôn Poăn, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, trong đó có hộ ông Lưu Văn A. Ngày 25/7/2007, UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 1720/QĐ-UBNĐ về việc giao cho Ban quản lý đầu tư và xây dựng thủy lợi 8 phần diện tích đất trên để làm bãi vật liệu đất đắp đập phục vụ công trình thủy lợi Hồ chứa nước Krông Búk Hạ. Đến ngày 09/12/2014, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2947/QĐ- UBND thu hồi 202.412 m2 đất tại xã K1, huyện K của Ban Quản lý đầu tư và xây dựng thủy lợi 8 và giao cho Chi cục Thủy sản - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng công trình Trung tâm giống thủy sản cấp tỉnh. Ngày 14/01/2015, các bên lập biên bản bàn giao diện tích 202.412 m2 đất cho Chi cục Thủy sản - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng công trình Trung tâm giống thủy sản cấp tỉnh.
Ngày 15/01/2015, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh Đ (nay là Văn phòng đăng ký đất đai) nhận được hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Chi cục Thủy sản (được thành lập theo Quyết định số 564/QĐ-UBND ngày 13/3/2009 của ủy ban nhân dân tỉnh Đ) đối với thửa đất số 108, tờ bản đồ số 53, diện tích 196209,4 m2, đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp khác và thửa đất số 109, tờ bản đồ số 53, diện tích 6202,6 m2, đất sử dụng vào mục đích xây dựng trụ sở cơ quan tại xã K1, huyện K.
Ngày 12/02/2015, thừa ủy quyền của Chủ tịch UBND tỉnh Đ, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 821589 đối với thửa đất số 108, tờ bản đồ số 53, diện tích 196209,4 m2 và số BQ 821588 đối với thửa đất số 109, tờ bản đồ số 53, diện tích 6202,6 m2 cho Chi cục Thủy sản tại xã K1, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 99; khoản 1 Điều 105 Luật Đất đai
năm 2013, Điều 25, Điều 46 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai năm 2013, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho Chi cục thủy sản là đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục theo quy định. Do đó, không có cơ sở chấp nhận nội dung khởi kiện của ông Lưu Văn A đối với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 821589 đối với thửa đất số 108, tờ bản đồ số 53, diện tích 196209,4 m2 và số BQ 821588 đối với thửa đất số 109, tờ bản đồ số 53, diện tích 6202,6 m2 cho Chi cục Thủy sản tại xã K1, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Xét nội dung đề nghị cấp lại diện tích đất theo tinh thần Công văn số 334/CV-UB ngày 25/10/2005 của UBND huyện K, Hội đồng xét xử thấy rằng: Như đã phân tích ở mục trên, phần diện tích đất trên đã bị thu hồi và giao lại cho Ban Quản lý đầu tư và xây dụng thủy lợi 8, sau đó thu hồi và giao lại Chi cục Thủy sản - Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng công trình Trung tâm giống thủy sản cấp tỉnh. Như vậy, UBND huyện K không được giao quản lý phần diện tích đất trên nên không có thẩm quyền giao đất cho các hộ dân, trong đó có hộ ông Lưu Văn A. Mặt khác, Công văn 334 nói trên không phải là văn bản thể hiện việc Nhà nước giao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Luật Đất đai, đồng thời nội dung công văn cũng không thể hiện việc Nhà nước có giao đất cho người sử dụng đất. Do đó, yêu cầu của ông Lưu Văn A về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để cấp lại đất cho gia đình ông theo tinh thần công văn 334 là không có cơ sở chấp nhận.
Xét yêu cầu hủy Quyết định số 186 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã K1, huyện K, tỉnh Đ, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi vi phạm hành chính trong việc sử dụng đất đai: Như đã phân tích ở mục [3] trên, việc ông Lưu Văn A sử dụng diện tích đất đã được thu hồi và đền bù, nhưng chưa được thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất lại theo quy định của pháp luật về đất đai, đây là hành vi chiếm đất được quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Cơ quan có thẩm quyền nhiều lần yêu cầu ông A chấm dứt hành vi vi phạm nhưng ông A không tự nguyên thực hiện. Do vậy, việc áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính là cần thiết. Tuy nhiên do thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đã hết nên việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 65 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
Về hình thức và nội dung của Quyết định số 186.
Về hình thức: Do có hành vi vi phạm như đã phân tích trên, nên ngày 11/12/2017, Chủ tịch ủy ban nhân dân xã K1 ban hành quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả số 186 buộc ông Lưu Văn A buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu là đúng thẩm quyền, phù hợp với quy định điểm a khoản 1 Điều 28; Điều 29; điểm d khoản 1 Điều 38 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; khoản 1 Điều 31 Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Tuy nhiên, tại Điều 1 Quyết định số 186 có ghi: “Về biện pháp để khắc phục hậu quả phải thực hiện gồm: Yêu cầu gia đình ông (bà) trả lại đất cho Chi cục thủy sản – Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đ thực hiện dự án”. Căn cứ điểm điểm d khoản 1 Điều 31 Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, Chủ tịch UBND xã K1 ban hành quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là “Buộc trả lại đất lấn chiếm” là không đúng thẩm quyền. Tuy nhiên, tại Quyết định số 186 cũng có ghi: “Chi phí thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả gia đình ông (bà) Lưu Văn A tự chi trả để khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm vì đất đã được UBND huyện K thu hồi bồi thường theo quy định”. Như vậy mục đích khi ban hành quyết định là nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu để giao trả lại diện tích đất trên cho Chi cục thủy sản – Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đ thực hiện dự án. Do vậy, mặc dù có vi phạm về thẩm quyền nhưng không làm ảnh hưởng đến bản chất sự việc. Mặt khác, tính đến thời điểm hiện nay, quyết định trên đã được thi hành và cưỡng chế xong do vậy việc hủy quyết định để ban hành quyết định mới theo đúng thẩm quyền là không cần thiết, không mang tính thực tiễn.
Về nội dung quyết định: Ngày 13/09/2017, UBND xã K1 tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông A về việc lấn chiếm, tái lấn chiếm đất khu vực xây dựng công trình Trung tâm giống thủy sản cấp tỉnh nhưng ông A vẫn không tự nguyện khôi phục lại tình trạng ban đầu, giao trả lại phần diện tích đất cho Chi cục thủy sản nên Chủ tịch UBND xã K1 ban hành quyết định 186 là phù hợp.
Xét nội dung khởi kiện của ông Lưu Văn A cho rằng việc Chủ tịch UBND xã K1 ban hành quyết định 186 là không phù hợp với địa giới hành chính, HĐXX thấy rằng: Căn cứ bản đồ địa giới hành chính số 364 được lập ngày 24/4/1994 phân ranh giới giữa xã E với xã K1 thì lấy suối đĩa làm ranh giới, phía nam suối đĩa thuộc xã E, phía bắc suối đĩa thuộc xã K1 quản lý. Khu vực Trung tâm giống thủy sản cấp tỉnh nằm hoàn toàn phía bắc suối đĩa nên thuộc địa giới hành chính do UBND xã K1 quản lý. Do vậy, Chủ tịch UBND xã ban hành quyết định 186 là đúng quy định.
Xét yêu cầu hủy Quyết định số 29 của Chủ tịch UBND huyện K, tỉnh Đ, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hình thức của quyết định: Chủ tịch UBND huyện K ban hành quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 29, cưỡng chế buộc ông Lưu Văn A khôi phục lại tình trạng ban đầu là đúng thẩm quyền, phù hợp với quy định điểm d khoản 2 điều 86; điểm a khoản 1 Điều 87 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Điều 33 Nghị định 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Việc ban hành quyết định trên phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 73 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
Xét về nội dung quyết định: Như đã phân tích ở mục [4], sau khi hết thời hạn thi hành Quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả số 186 của Chủ tịch UBND xã K1, ông Lưu Văn A vẫn không chấp hành quyết định trên. Do vậy, ngày 09/01/2018, chủ tịch UBND huyện K ban hành quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 29 đối với ông A là đúng quy định của pháp luật.
Từ những phân tích, nhận định trên, xét thấy toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Văn A là không có cơ sở. Do vậy cần bác toàn bộ nội dung khởi kiện của ông Lưu Văn A là phù hợp.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Văn A không được Tòa án chấp nhận nên ông A phải chịu 300.000đ án phí hành chính sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; khoản 3, 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 194; khoản 1 Điều 206 Luật Tố tụng hành chính 2015;
Áp dụng Điều 99 và Điều 105 Luật Đất đai năm 2013; Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai năm 2013; Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Nghị định 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; Áp dụng khoản 1 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội:
Tuyên xử:
1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lưu Văn A về yêu cầu:
- Hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số 821589 và số 821588, cấp ngày 12/02/2015 do UBND tỉnh Đ cấp cho Chi cục thủy sản tỉnh Đ để cấp lại đất cho gia đình ông theo tinh thần công văn số 334/CV-UB ngày 25/10/2005 của UBND huyện Huyện K, tỉnh Đ.
- Hủy bỏ Quyết định số 186/QĐ-UBND ngày 11/12/2017 về việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã K1, huyện K, tỉnh Đ;
- Hủy bỏ Quyết định số 29/QĐ-CCXP ngày 09/01/2018 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả của Chủ tịch UBND huyện K, tỉnh Đ.
2. Về án phí hành chính sơ thẩm: Ông Lưu Văn A phải chịu 300.000đồng án phí hành chính sơ thẩm. Được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà ông A đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0006318 ngày 19/4/2018 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đ.
3. Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đăk Lăk; - Cục THADS tỉnh Đ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Doãn Đình Quyến |