- Tranh chấp gì? án hình sự — "Sùng Thị L - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Sùng Thị L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN T TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2017/HSST Ngày: 26/9/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH LAI CHÂU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Thanh Bắc.
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Vàng A Kỷ. 2. Ông: Nguyễn Thanh Tùng.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy Phượng – Thư ký Toà án nhân dân huyện T.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên toà: Ông Đinh Như Quỳnh – Kiểm sát viên
Hôm nay, ngày 26/9/2017 tại nhà văn hóa khu 21, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu mở phiên tòa theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2017/HSST-QĐ ngày 13/9/2017 xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 34/2017/HSST, ngày 07 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:
Sùng Thị L - Sinh năm: 1976.
Nơi ĐKHKTT: Bản K2, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Sùng A C; Con bà: Sùng Thị S (đã chết); Gia đình bị cáo có 06 anh em, bị cáo là con thứ hai; có chồng là: Thào A C và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2016); Tiền án, tiền sự: Không. Hiện đang được áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 02/7/2017 - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 29/6/2017, Sùng Thị L – sinh năm 1976, trú tại bản K2, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu đi xuống bản N, xã P, huyện T để tìm mua Hêrôin mang về bán lẻ kiếm lời. Khi Sùng Thị L đi đến bản N thì gặp một người phụ nữ dân tộc Mông không rõ nhân thân lai lịch, qua trao đổi L mua được 02 gói Hêrôin của người phụ nữ này với giá 600.000 đồng, bên ngoài gói thứ nhất được gói bằng mảnh nilon màu trắng, bên trong có 04 gói bên ngoài mỗi gói đều được gói bằng các mảnh nilon màu trắng, gói thứ hai được gói bằng mảnh nilon màu xanh. Sau khi bán Hêrôin cho L và lấy tiền thì người phụ nữ này đi đâu, làm gì thì L không biết. Mua được Hêrôin L mang về nhà cất giấu 02 gói Hêrôin ở dưới đệm để bán lẻ kiếm lời, nhưng Sùng Thị L chưa kịp bán thì bị Công an huyện T phát hiện bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của Sùng Thị L là 02 gói Hêrôin có trọng lượng 0,56 gam bên ngoài gói thứ nhất được gói bằng mảnh nilon màu trắng, bên trong có 04 gói đều được gói bằng các mảnh nilon màu trắng, gói thứ hai bên ngoài được gói bằng mảnh nilon màu xanh.
Tại kết luận giám định số 302 ngày 11/8/2017, của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu Kết luận: Chất bột khô, màu trắng đục, vón cục thu giữ của Sùng Thị L gửi đến giám định là Hêrôin.
Trong quá trình điều tra bị cáo Sùng Thị L đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số 27/KSĐT-MT, ngày 06/9/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo Sùng Thị L về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát huyện T giữ nguyên quan điểm truy tố của mình đồng thời phân tích, đánh giá toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Sùng Thị L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 điều 194; Điều 33; điểm p khoản 1 điều 46 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Sùng Thị L từ 02 năm đến 03 năm tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung được qui định tại khoản 5 điều 194 Bộ luật hình sự đối với bị cáo, vì bị cáo không có tài sản gì đáng giá.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng điều 41 Bộ luật hình sự và điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị hội đồng xét xử giải quyết theo qui định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra bị cáo Sùng Thị L đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo đều phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 29/6/2017 bị cáo đã đi xuống bản N, xã P, huyện T mua của một người phụ nữ người mông không quen biết 04 gói Hêrôin có trọng lượng 0,56 gam với số tiền 600.000 đồng mang về nhà cất dấu mục đích để bán lẻ kiếm lời, bị cáo chưa kịp bán ma túy thì bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội:"Mua bán trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được qui định tại khoản 1 điều 194 của Bộ luật hình sự. Nội dung bản cáo trạng truy tố, căn cứ đề nghị của Viện kiểm sát huyện T đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng qui định pháp luật.
Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ điều kiện nhận biết ma túy là độc dược gây nghiện, gây tổn hại cho sức khỏe, nhân phẩm của con người và là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Nhà nước ta đang đấu tranh quyết liệt để loại trừ ma túy ra khỏi đời sống xã hội và xử phạt nghiêm khắc đối với những người nào có các hành vi liên quan đến ma túy. Xét cần phải có một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo và cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Song sau khi phạm tội bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự.
Xét bị cáo là phụ nữ người dân tộc thiểu số, con còn nhỏ, không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo qui định tại khoản 5 điều 194 Bộ luật hình sự.
Trong vụ án này, bị cáo Sùng Thị L khai nhận nguồn gốc số ma túy là bị cáo mua của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết tại khu vực bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu với giá 600.000 đồng. Quá trình điều tra không xác định được người đàn ông này nên không có căn cứ để xử lý.
Về vật chứng còn lại của vụ án gồm: 0,5 gam Hêrôin xét là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Áp dụng điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Sùng Thị L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bởi các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Sùng Thị L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
1. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 điều 194; điểm p khoản 1 điều 46; điều 33; của Bộ luật hình sự năm 1999.
Xử phạt bị cáo Sùng Thị L 02 (hai) năm tù. Thời hạn từ được tính từ ngày bị cáo đi thụ hình.
2. Về vật chứng: Áp dụng điều 41 Bộ luật hình sự và điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 bì thư làm bằng bì thư Công an huyện T màu trắng, hình chữ nhật được niêm phong theo qui định bên trong đựng 0,5 gam Hêrôin
Số vật chứng trên cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Lai Châu đang quản lý.
3. Về án phí: Áp dụng điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Sùng Thị L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo biết trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu yêu cầu xét xử phúc thẩm./. N¬i nhËn:
| - TAND tØnh; - VKS tØnh, huyÖn; - BÞ c¸o; - THA d©n sù; - CA; Tr¹i giam. - THA PT; - Sở Tư pháp; - Lưu HS - TA. | TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ Dương Thanh Bắc |