- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tran thi cam tu ly hon vu quoc tuan"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 39, khoản 4 điều 147, Khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228, khoản 1 điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN ND HUYỆN CHÂU ĐỨC TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số : 38/2017/HNGĐ-ST Ngày : 29-9- 2017 V/v : “ Ly hôn “ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đào Trọng Hải
- Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Lệ Huyền
- Bà Trần Thị Hạnh
- Thư Ký phiên toà: Bà Tạ Thị Mỹ Hạnh thư ký Tòa án huyện Châu Đức.
- Đại diện VKSND Huyện Châu Đức tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Ngọc – Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân Huyện Châu Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 208/2017/TLST – HNGÑ ngày 06 tháng 6 năm 2017 về: “Ly hôn”
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/8/2017, Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2017/QĐHPTST-HNGĐ ngày 14/9/2017, giữa các đương sự:
Nguyên đơn : Chị Trần Thị Cẩm T, Sinh năm 1993
Địa chỉ : Tổ 81, thôn Tân Long, xã K, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
( Có đơn xin xử vắng mặt )
Bị đơn : Anh Vũ Quốc T1, Sinh năm 1990
Địa chỉ: Tổ 85, ấp Liên Hiệp, xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
(Vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Tại đơn khởi kiện ngày 11/5/2017, biên bản lời khai ngày 28/6/2017 và các biên bản làm việc khác thì nguyên đơn chị Trần Thị Cẩm T trình bày:
Chị Trần Thị Cẩm T và anh Vũ Quốc T1 quen biết và thương yêu nhau từ năm 2016 tiến tới đăng ký kết hôn vào ngày 14 tháng 2 năm 2017 tại UBND xã X, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trên tinh thần tự nguyện. Thời gian đầu cuộc sống gia đình hạnh phúc đến giữa năm 2017 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp nhau nên thường xuyên cải nhau là do anh T1 thường xuyên rượu chè về đánh đập vợ con. Việc mâu thuẫn xảy ra ngày càng nhiều và càng gây gắt. Từ đó vợ chồng sống ly thân từ tháng 4/2017 cho đến nay. Gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên giải để hàn gắn lại hạnh phúc cho vợ chồng nhưng không có kết quả. Đến nay chị T thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống gia đình không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị T cho rằng đã nhiều lần cố gắn hàn gắn nhưng đến nay vẫn không được nên yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau :
- Về hôn nhân: Xin được ly hôn với anh Vũ Quốc T1.
- Về nuôi con chung: Có 01 con Cháu Vũ Hoàng Kim Y, sinh ngày: 11.01.2017. Hiện cháu đang sống chung với chị T nên chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.
- Về chia tài sản: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Đối với anh Vũ Quốc T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không lý do vì vậy không thể lấy lời khai và tiến hành hòa giải được.
Ý kiến của Viện kiểm sát: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, sau khi thụ lý đã thực hiện đầy các thủ tục tố tụng theo theo Bộ luật tố tụng dân sự. Nay anh T1 vắng mặt không lý do là lần thứ hai nên Tòa án xét xử vắng mặt anh T1 là có căn cứ. Mâu thuẫn của vợ chị Trần Thị Cẩm T và anh Vũ Quốc T1 là có thật và trầm trọng. Nay chị T yêu cầu ly hôn là có cơ sở nghĩ nên chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận định:
Chị Trần Thị Cẩm T và anh Vũ Quốc T1 có đăng kết hôn tại UBND xã X, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vào ngày 14 tháng 2 năm 2017 là hôn nhân tự nguyện và hợp pháp. Hiện hai bên điều cư trú tại huyện C nay có yêu cầu ly hôn căn cứ vào điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C.
Chị Trần Thị Cẩm T và anh Vũ Quốc T1sau khi sống chung từ năm 2016 có với nhau được 01 con chung. Đến đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nhưng vì con nên chị T cố gắng hàn gắn nhưng không đạt kết quả. Mâu thuẫn càng ngày trầm trọng và có lúc anh T1 còn dùng vũ lực đối với chị T nên từ tháng 4 năm 2017 chị T cùng với con ruột đã về gia đình cha mẹ để sinh sống. Từ khi về gia đình cha mẹ sống thì gia đình hai bên cũng đã nhiều lần khuyên nhũ nhưng không đạt kết quả.
Anh Vũ Quốc T1 mặt dù theo kết quả xác minh hiện đang cư trú tại địa phương, nhưng khi được Tòa án triệu tập vẫn cố tình vắng mặt không lý do thể hiện không có thiện chí để hòa giải hàn gắn lại hạnh phúc. Ngoài ra theo xác minh thì mâu thuẫn của vợ chồng chị Tú và anh Tuấn là có thật, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau nên thường xuyên xảy ra cải vã và sống ly thân. Anh T1nhiều lần đến chổ chị T cư trú la lối, gây gổ, chửi bới chị T gây mất trật tự tại địa phương và được chính quyền địa phương mời làm việc.
Nay tình cảm vợ chồng không còn, mẫu thuẫn đã đến mức trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không muốn níu kéo lại cuộc sống gia đình, để mặc cho mâu thuẫn xảy ra. Cho đến nay chị T vẫn kiên quyết yêu cầu được ly hôn với anh T1 là có cơ sở. Căn cứ vào điều 56 Luật hôn nhân và gia đình việc chị T yêu cầu ly hôn là có phù hợp nghĩ nên chấp nhận.
Về nuôi con chung:
Có 01 con Cháu Vũ Hoàng Kim Y, sinh ngày 11.01.2017. Chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Y và không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng.
Từ khi ly thân cháu Y sống chung với chị T và cháu Y vẫn phát triển bình thường khỏe mạnh, nay chị T có nguyện vọng được nuôi cháu Y. Như vậy từ khi ly thân với chồng một mình chị T vẫn đảm trách được việc nuôi dạy con, do đó để cuộc sống của cháu Y không bị xáo trộn nghỉ nên căn cứ vào khoản 2 điều 81 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị T giao cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng cháu Y là phù hợp.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 BLTTDS.
Căn cứ điểm a khoản 5 điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án chị Trần Thị Cẩm T chịu toàn bộ.
Chị Trần Thị Cẩm T có đơn xin xử vắng mặt, anh Vũ Quốc T1 đã được Tòa án triệu tập hợp nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ vào điều 227, 228, khoản 1 điều 238 BLTTDS năm 2015 xử vắng mặt các đương sự.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 39, khoản 4 điều 147, Khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228, khoản 1 điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Áp dụng: Điều 42 Bộ Luật dân sự.
Áp dụng: Điều 56, khoản 2 điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Chấp nhận toaøn boä yêu cầu của chị Trần Thị Cẩm T ñoái với anh Vũ Quốc T1 trong việc xin ly hôn.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Cẩm T anh Vũ Quốc T1.
2. Về nuôi con chung: Có 01 con chung cháu Vũ Hoàng Kim Y, sinh ngày 11.01.2017
2.1 Giao cháu Vũ Hoàng Kim Y, sinh ngày 11.01.2017 cho chị Trần Thị Cẩm T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
2.2 Anh Vũ Quốc T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Vũ Quốc T1 được quyền thăm con, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cấm cản.
Vì lợi ích của con theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5, điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về chia tài sản, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.
Về án phí HNST: Chị Trần Thị Cẩm T nộp 300.000(ba trăm ngàn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án đã nộp 300.000(ba trăm ngàn)đồng theo biên lai thu số: 0005229 ngày 06/6/2017 của Chi cục thi hành án thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chị Trần Thị Cẩm T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự .
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ . Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND Tỉnh BR- VT;
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- VKSND H.C;
- Các Đương sự;
- THADS H.C; -UBND xã X;
- lưu.
ĐÀO TRỌNG HẢI THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh BR- VT; - VKSND H.CD; - Các Đương sự; - THADS H.CD; -UBND xã Xà Bang; - lưu. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ ĐÀO TRỌNG HẢI THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |