- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Hồng H xin ly hôn với anh Ngô Huy K"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của anh Ngô Huy K, giữ nguyên án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2017/DSPT Ngày: 01/9/2017 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Minh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tính
Bà Hoàng Thị Luận
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Bình – Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số 38/2017/TLPT-HNGĐ ngày 12/6/2017 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 04/2017/HNGĐ-ST ngày 21/4/2017 của TAND huyện T1 bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 33/2017/QĐ-PT ngày 11/7/2017, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hồng H, sinh năm 1992 (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn B, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang.
Bị đơn: Anh Ngô Huy K, sinh năm 1989 (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn N, xã M, huyện T1, tỉnh Bắc Ninh.
Người kháng cáo: Anh Ngô Huy K.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo án sơ thẩm và tài liệu trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn là chị Nguyễn Hồng H trình bày: Chị và anh K tìm hiểu và tổ chức kết hôn vào ngày 19/09/2013, có đăng ký kết hôn ở UBND xã M, huyện T1, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc. Khoảng 01 năm sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm dẫn đến cãi cọ nhau. Đến tháng 5/2015 thì vợ chồng ly thân và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống, đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn với anh Ngô Huy K.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung là cháu Ngô Ngọc A, sinh ngày 25/11/2014. Cháu Ngọc A hiện đang do chị nuôi dưỡng khỏe mạnh và phát triển bình thường. Khi ly hôn chị xin tiếp tục được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Ngọc A và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Không có.
Bị đơn là anh Ngô Huy K trình bày: Anh xác nhận lời khai của chị H về thời điểm và quá trình kết hôn là đúng. Mâu thuẫn được xác định là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Từ tháng 5/2015 đến nay, vợ chồng ly thân và đã cắt đứt mọi quan hệ tình cảm. Nay đối với yêu cầu xin ly hôn của chị H thì anh đồng ý, vì anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên không thể sống chung với nhau được nữa.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung đúng như lời trình bày của chị H. Khi ly hôn anh xin được nuôi cháu Ngọc A và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ: Không có.
Với nội dung trên, án sơ thẩm đã áp dụng Điều 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Điều 144, 235 Bộ luật tố tụng dân sự và pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án xử:
1. Về quan hệ vợ chồng: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Hồng H và anh Ngô Huy K.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Ngô Ngọc A, sinh ngày 25/11/2014 cho chị Nguyễn Hồng H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Tiền cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét. Anh Ngô Huy K được quyền thăm nom con chung.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi án sơ thẩm xử, anh Ngô Huy K làm đơn kháng cáo bản án sơ thẩm về phần con chung.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn xin giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không tự hòa giải đoàn tụ và không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết nuôi con chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự pháp luật quy định của pháp luật.
Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS, bác đơn kháng cáo của anh Ngô Huy K và giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các bên đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên thì thấy:
Ngày 19/9/2013 chị Nguyễn Hồng H và anh Ngô Huy K tổ chức và đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện T1, tỉnh Bắc Ninh nên quan hệ hôn nhân được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm. Đỉnh điểm của mâu thuẫn là tháng 5/2015, vợ chồng ly thân và cắt đứt mọi quan hệ tình cảm từ đó đến nay. Tòa án cấp sơ thẩm xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh K là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; hơn nữa, chị H và anh K đều đồng ý ly hôn nên Tòa án xử công nhận việc thuận tình ly hôn giữa chị H và anh K là phù hợp và có căn cứ.
Xét kháng cáo của anh K về phần nuôi con chung, anh không đồng ý để chị H nuôi cháu Ngô Ngọc A, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xử cho anh được nuôi con, Hội đồng xét xử thấy: Cả anh K và chị H đều có nguyện vọng nuôi con và đều đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, đến thời điểm xét xử phúc thẩm, con chung của anh K, chị H là cháu Ngô Ngọc A mới được 33 tháng tuổi. Theo quy định của khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình thì: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trôm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Mặt khác, hiện cháu Ngọc A vẫn đang do chị H trực tiếp nuôi dưỡng và cháu vẫn mạnh khỏe, phát triển bình thường. Để đảm bảo sự chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Ngọc A được phát triển và ổn định, cần giao cháu cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng và chăm sóc. Vì vậy, cần bác đơn kháng cáo của anh Ngô Huy K và giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm.
Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của anh K không được chấp nhận nên anh K phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH
Không chấp nhận kháng cáo của anh Ngô Huy K, giữ nguyên án sơ thẩm.
Áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS; Điều 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Về quan hệ vợ chồng: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Hồng H và anh Ngô Huy K.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Ngô Ngọc A, sinh ngày 25/11/2014 cho chị Nguyễn Hồng H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tiền cấp dưỡng nuôi con không đặt ra xem xét. Anh Ngô Huy K được quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Hồng H phải chịu 200.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp số tiền 200.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 00671 ngày 31/11/2016 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T1.
Anh Ngô Huy K phải chịu 300.000 án phí phúc thẩm. Xác nhận anh K đã nộp đủ số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai số 00772 ngày 26/4/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T1.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - TAND huyện T1; - Chi cục THADS huyện T1; - Các đương sự; - Lưu hs. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Hữu Minh |