- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Lâm Thị V - Huỳnh Thị H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị V đối với bị đơn bà Huỳnh Thị H và ông Đặng Hoàng D về việc tranh chấp hụi.
- Căn cứ chính? Điều 15 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 38/2017/DS-ST Ngày: 01-8-2017 V/v tranh chấp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH THƯỢNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Khanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trương Hoàng Dân
2. Bà Phạm Thị Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U Minh Thượng tham gia phiên tòa: Bà Danh Thu Tâm – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2017, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 58/2017/TLST-DS, ngày 15 tháng 5 năm 2017 về tranh chấp hụi theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2017/QĐXXST-DS, ngày 13 tháng 7 năm 2017, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lâm Thị V, sinh năm 1964, trú tại ấp H, xã A, huyện U, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
2. Bị đơn: Bà Huỳnh Thị H (Hiền), sinh năm 1973 và ông Đặng Hoàng D, sinh năm 1969 (chồng bà H), cùng trú tại ấp X, xã A, huyện U, tỉnh Kiên Giang (bà H hiện đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam Định Thành (An Giang); bà H và ông D xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 11/5/2017 và các lời khai tại Tòa án nguyên đơn bà Lâm Thị V trình bày:
Vào ngày 15/01/2012 âm lịch bà Lâm Thị V (gọi tắt là bà V) có tham gia 01 phần hụi giá 5.000.000 đồng do vợ chồng bà Huỳnh Thị H và ông Đặng Hoàng D (gọi tắt là bà H, ông D) làm chủ hụi, gồm 10 thành viên (11 phần hụi), 06 tháng xổ 01 lần. Bà V góp được 05 lần thì bà H bị bể hụi, sau đó thì bị bắt về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Dây hụi này không nằm trong các dây hụi lừa đảo. Bà V đóng cho bà H được 05 lần hụi sống với số tiền là 12.500.000 đồng.
Nay bà V yêu cầu vợ chồng bà H, ông D trả tiền hụi còn thiếu là 12.500.000 đồng.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 07 tháng 7 năm 2017 bị đơn bà Huỳnh Thị H trình bày: Trong dây hụi ngày 15/01/2012 âm lịch bà V có đóng cho bà H được 05 lần với số tiền là 12.500.000 đồng. Nhưng theo bản án hình sự sơ thẩm số 51/2016/HSST ngày 20 tháng 6 năm 2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang bà V còn nợ lại bà H số tiền là 75.900.000 đồng. Bà H yêu cầu khấu trừ vào số tiền bà V còn thiếu bà H.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 20 tháng 7 năm 2017 bị đơn ông Đặng Hoàng D: Thống nhất theo lời khai của bà H, không có ý kiến gì thêm.
Tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp và Tòa án thu thập gồm có:
Giấy ghi hụi đề ngày 15/01/2012 âm lịch; Biên bản lấy lời khai bà H ngày 07/7/2017; Biên bản lấy lời khai ông D ngày 20/7/2017.
Tại phiên tòa, Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đồng ý khấu trừ nợ theo yêu cầu của bà H.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự đã thực hiện và chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Theo biên bản lấy lời khai ngày 07/7/2017 của Tòa án (có xác nhận của Trại giam Định Thành) bà H thừa nhận trong dây hụi ngày 15/01/2012 âm lịch bà V đóng cho bà H được 05 lần hụi sống với số tiền là 12.500.000 đồng. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn.
Việc các đương sự yêu cầu khấu trừ nợ lẫn nhau khi nào thi hành án thì các đương sự có quyền thỏa thuận khấu trừ, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về thủ tục tố tụng: Tại biên bản lấy lời khai ngày 07/7/2017 bị đơn bà Huỳnh Thị H xin được xét xử vắng mặt vì lý do đang bị tù giam nên không thể đến tham dự phiên tòa. Đồng bị đơn là ông Đặng Hoàng D (chồng bà H) cũng xin được xét xử vắng mặt vì lý do đi làm ăn xa. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn cũng không có yêu cầu phản tố. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
. Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn trả số tiền 12.500.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại biên bản lấy lời khai ngày 07/7/2017 bị đơn bà H thừa nhận trong dây hụi ngày 15/01/2012 âm lịch bà V đóng cho bà H được 05 lần hụi sống với số tiền là 12.500.000 đồng, nhưng yêu cầu được khấu trừ vào số tiền hụi bà V còn nợ lại bà H trong bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
Lời trình bày của nguyên đơn được bị đơn thừa nhận, căn cứ Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử khẳng định việc bà H làm chủ hụi và còn nợ lại bà V trong dây hụi ngày 15/01/2012 âm lịch với số tiền 12.500.000 đồng là có thật. Nên yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ.
Xét việc bà H và bà V yêu cầu Tòa án xem xét khấu trừ tiền hụi lẫn nhau, Hội đồng xét xử nhận thấy: Số tiền 12.500.000 đồng bà H thiếu bà V trong dây hụi ngày 15/01/2012 âm lịch với số tiền hụi bà V thiếu bà H trong bản án hình sự sơ thẩm số 51/2016/HSST ngày 20/6/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang là khác nhau, không nằm trong cùng một dây hụi nên không thể khấu trừ. Nếu muốn khấu trừ, trong giai đoạn thi hành án sau này bà H và bà V có thể thỏa thuận khấu trừ theo quy định của Luật thi hành án dân sự.
Về trách nhiệm trả nợ: Việc bà H làm chủ hụi ông D cũng biết và cũng thống nhất với lời trình bày của bà H. Theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30…và Điều 37 của Luật này”.
Tại khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây: ...Nghĩa vụ do vợ chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình...”.
Căn cứ Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử thống nhất buộc vợ chồng ông D, bà H chịu trách nhiệm liên đới trả cho bà V số tiền hụi là 12.500.000 đồng.
. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H và ông D phải chịu tiền án phí là 625.000 đồng (sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Bà V được nhận lại tiền tạm ứng án phí là 312.000 đồng theo lai thu số 0006522 ngày 11/5/2017 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện U Minh Thượng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 479 Bộ luật dân sự 2005; điểm c khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự 2015; Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 3 Điều 15, Điều 29 Nghị định 144/2006/NĐ – CP, ngày 27/11/2006 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; khoản 1 Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy án phí và lệ phí Tòa án; Điều 92, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị V đối với bị đơn bà Huỳnh Thị H và ông Đặng Hoàng D về việc tranh chấp hụi.
2. Buộc bà Huỳnh Thị H và ông Đặng Hoàng D chịu trách nhiệm liên đới trả cho bà Lâm Thị V số tiền là 12.500.000 đồng (mười hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong số tiền phải thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Huỳnh Thị H và ông Đặng Hoàng D phải chịu tiền án phí là 625.000 đồng (sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
Bà Lâm Thị V được nhận lại tiền tạm ứng án phí là 312.000 đồng theo lai thu số 0006522 ngày 11/5/2017 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện U Minh Thượng.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh KG; - Viện kiểm sát nhân dân huyện UMT; - Chi cục Thi hành án DS huyện UMT; - Các đương sự; - Lưu hs. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Tuấn Khanh |